Chương 119

Tống Thế Huyên không ở lại lâu, chính sự bận rộn, hắn có thể rời kinh hai ngày trong dịp Tết đã là điều không dễ dàng.

Tô Triều Từ còn bận rộn hơn. Ngay cả buổi đêm lưu lại, hắn cũng sai người mang đến rất nhiều văn thư, cùng Châu Đàn bàn luận hồi lâu với vẻ mặt nghiêm túc.

Ngải Địch Thanh thì lên dốc núi phía sau tìm đến nhà bán rượu quen thuộc của Khúc Du để dò la chuyện buôn bán ở chợ rượu Lâm An. Khúc Du tìm được cơ hội, mời riêng Tống Thế Huyên đến đình Thiên Ảnh.

Thị vệ đi theo dõi từ xa, biết hoàng đế có lời muốn nói nên không dám lại gần.

Khúc Du cũng không vội, nàng hâm nóng một bầu rượu cho hắn. Tống Thế Huyên đón lấy bằng hai tay, nhấp một ngụm, khóe môi khẽ cong: “Sư mẫu trước đây không cho phép ta uống rượu.”

“Người đã trưởng thành rồi.” Khúc Du chống cằm, ôn tồn nói: “Ta đương nhiên sẽ không còn coi người là trẻ nhỏ nữa.”

Tống Thế Huyên uống cạn chén rượu: “Dung Nhi gần đây nuôi một con mèo trắng, ta thấy khá giống con mèo năm xưa.”

“Dung Nhi” là khuê danh của Hoàng hậu. Thuở trước khi Tống Thế Huyên bàn bạc với Châu Đàn, giả ý thân cận với La Giang Đình, Hoàng hậu đều biết rõ mọi chuyện.

Giờ đây hắn gọi thân mật như vậy, hẳn là tình cảm với Hoàng hậu rất tốt.

Minh Đế trong lịch sử là một vị minh quân, dường như chưa từng có tin đồn hoang dâm hay sủng ái ai quá mức.

Khúc Du mỉm cười: “Thật tốt.”

Tống Thế Huyên hỏi: “Sư mẫu có lời gì muốn nói với ta chăng?”

Nàng cũng không muốn khách sáo với Tống Thế Huyên nhiều nữa: “Tử Khiêm, khi người bước vào viện này, ta đã không xưng hô với người là bệ hạ. Những lời này hiện giờ cũng chỉ là lời ta muốn nói với tư cách là sư mẫu của người mà thôi.”

Thấy nàng trịnh trọng như vậy, vẻ mặt Tống Thế Huyên cũng nghiêm túc thêm hai phần: “Sư mẫu cứ nói, không sao cả.”

“Ta có một việc muốn nhờ người.” Khúc Du lấy ra một chồng bản thảo dày cộp từ chiếc giỏ tre đặt bên cạnh, đưa tận tay hắn: “Người xem qua cái này trước đã.”

Tống Thế Huyên lật xem sơ qua, sắc mặt khựng lại: “Đây là…”

Khúc Du không đáp, mà hỏi: “Tử Khiêm, ta nghe nói khi phu quân ở trong ngục, người từng bí mật triệu tập vài vị Sử quan, lúc ấy mọi người đã nói những gì?”

Tống Thế Huyên mím môi, khẽ đáp: “Ta… vốn muốn thỉnh cầu họ minh oan cho thanh danh của lão sư, nhưng từ xưa đến nay quyền vua không can thiệp vào việc biên sử, huống hồ… chuyện của chúng ta, người chấp bút chưa chắc đã là người trong triều này. Ta không thể đem toàn bộ dự tính của lão sư nói hết ra, lại hoàn toàn không có bằng chứng, họ quỳ xuống can ngăn, quyết không chịu.”

Khúc Du gật đầu: “Phải rồi, dư luận trong thế gian này quá lớn…”

Tống Thế Huyên nói: “Cho nên, cuối cùng họ chỉ đồng ý với ta là sẽ cố gắng ghi chép mơ hồ nhất về lão sư. Nếu những lời đồn thổi kia thực sự đi vào sử sách, dù không thật cũng sẽ bị hậu nhân suy đoán, càng tô vẽ lại càng đen.”

Khúc Du có chút kinh ngạc nhìn hắn.

Thảo nào, thảo nào Châu Đàn khi đó đứng đầu trong Dận Sử – Nịnh Thần Truyện nhưng ghi chép lịch sử về chàng lại ít ỏi đến vậy.

Nàng khi đó từng rất thắc mắc, tại sao Châu Đàn liên quan đến những sự kiện lịch sử trọng đại như biến pháp Tước Hoa  và đảng tranh Trọng Cảnh mà tài liệu tham khảo lại nghèo nàn đến đáng thương.

Thì ra là Minh Đế đã nỗ lực hết sức để bảo vệ thanh danh cho chàng, nhưng chỉ là…

“Việc này… không nhất thiết phải như vậy.” Khúc Du lắc đầu, thở dài: “Tử Khiêm, người có biết đối với một con người, điều tàn nhẫn nhất là gì không?”

Tống Thế Huyên há miệng, vừa định nói, Khúc Du đã ngắt lời: “Không phải là bị bôi nhọ mà là bị lãng quên.”

Tống Thế Huyên giật mình, theo lời nàng hỏi: “Ý sư mẫu là…”

“Bệ hạ không cần phải cạn dự vào chuyện ấy nữa, Châu Đàn cũng không cần người ghi chép sử thiên vị về chàng.” Khúc Du thêm rượu cho hắn, chân thành nói: “Trong Tu Văn Các có phụ thân ta, ông là người cương trực nhất, sẽ không để cho hạ cấp cố ý bôi nhọ chàng ấy đâu. Chỉ cần họ công bằng, chi tiết ghi lại chân thật cả cuộc đời chàng là được. Còn những chuyện không có chứng cứ, hãy cứ để cho hậu nhân tự suy đoán.”

“Thế nhưng…”

“Chỉ cần không bị lãng quên, rồi sẽ có một ngày…” Khúc Du nâng chén rượu trong tay uống một ngụm, không nói hết lời phía sau.

Bởi vì… kỳ thực nàng cũng đang đánh cược.

Nàng không chắc chắn về hậu quả của việc làm này, nhưng nàng đã nghĩ đi nghĩ lại vô số lần: bị lãng quên mơ hồ ở góc khuất lịch sử, chỉ để lại hai chữ ‘nịnh thần’, trở thành cái bia đóng đinh vĩnh viễn, đối với Châu Đàn, đó mới là điều tàn nhẫn nhất.

Quan tài khi đã đóng nắp, không bao giờ còn có cơ hội xoay mình.

Vậy nên, điều nàng muốn làm, chính là cố gắng hết sức để lại thật nhiều nghi vấn trong lịch sử.

Không ai hiểu rõ cảm giác của những nhà nghiên cứu lịch sử hậu thế hơn nàng. Chỉ cần có nghi vấn, họ sẽ tìm mọi cách trong biển sách mênh mông để đi tìm chân tướng.

Chân tướng nằm ngay tại đây. Khoảng trống mới là sự im lặng độc địa.

Tống Thế Huyên suy nghĩ rất lâu, khẽ “ừm” một tiếng tỏ ý đồng tình, rồi lại lật xem chồng bản thảo của nàng.

Trang đầu tiên của bản thảo, nàng viết bốn chữ với nét chữ thanh tú.

— Bạch Tuyết Trường Ca.

“Sư mẫu, vậy đây là…”

“Người có từng nghe qua một câu nói không?” Khúc Du lắc lắc chén rượu trong tay, thẫn thờ, nhớ lại thần thái của Châu Đàn khi chàng hỏi nàng có đọc thơ của chàng chưa, trong đêm tuyết lạnh ở chiếu ngục, nàng khẽ cười.

“Câu nói gì?”

“Thơ ca… còn chân thật hơn lịch sử.”

Tống Thế Huyên không hiểu ý.

Thứ nàng viết, chỉ là một cuốn thoại bản.* Một cuốn thoại bản lấy Châu Đàn làm nguyên mẫu.

 *Thoại bản nghĩa là truyện kể dân gian.

Nhân vật chính không có tên thật, chỉ dùng cái tên Bạch Tuyết tiên sinh để gọi thay. Trong cuốn thoại bản này, nàng thoải mái bộc bạch tất cả sự thật, không hề kiêng dè.

Tiếng đàn ở Phàn Lâu, máu tươi trên núi Kinh Hoa, nước mắt trong mật thất, ngọn lửa vĩnh cửu không tắt ở Nhiên Chúc Lâu… cùng với ánh mặt trời nơi biên ải, vầng trăng sáng trên sa mạc, khói lửa trên tường thành và tình cảm nồng nhiệt từ tiền kiếp đến kiếp này, chưa từng bị phai mờ.

Chúng dập dềnh theo những ước nguyện được buộc trên cây cổ thụ, phiêu đãng như khói chiều trong gió.

Dải lụa đỏ ấy đang ở ngay trên tán cây hạnh trước mặt.

Mọi ước muốn, đều sẽ thành sự thật, đó là sự thiên vị mà thần phật dành cho họ.

“Hiện nay triều chính thái bình, tự nhiên không cần gây thêm sóng gió lúc này. Điều ta muốn nhờ Tử Khiêm, chính là để cuốn thoại bản này được lưu truyền.”

Khúc Du nói nhỏ: “Ta ở Lâm An, ẩn mình nơi thâm sơn, không thể xuất thế. Nhưng người thì khác, người ở trong triều, sẽ có ngàn năm vạn đời nối tiếp. Đợi đến khi chúng ta không còn trẻ nữa, thậm chí không còn ở nhân thế… ta hy vọng câu chuyện ở đây vẫn có thể truyền tiếp, truyền đến ngàn vạn năm sau, dẫu cho người đời mãi mãi tranh cãi câu chuyện này có thật hay không, những người ấy… có thật sự tồn tại hay không.”

Trong đình tĩnh lặng, chỉ có tiếng giấy được lật.

“Chỉ cần họ còn tranh luận, những người trong đó sẽ trường sinh bất tử.”

“Được.” Tống Thế Huyên lập tức đồng ý, trịnh trọng hứa hẹn: “Sư mẫu yên tâm, trước khi ta khuất núi, nhất định sẽ tìm mọi cách, dàn dựng kịch xã, tìm người kể chuyện, in ấn truyền bá.”

“Phàm trong lãnh thổ Đại Dận, người người đều có thể ca tụng Bạch Tuyết.”

Khúc Du nhìn chăm chú vào hắn: “Người có biết, nếu muốn sách này lưu hành, người sẽ không thể là một minh quân thanh liêm không vướng bụi trần, người sẽ bị kéo xuống phàm thế, bị phủ bụi trong đủ loại suy đoán, thậm chí bị bôi nhọ. Người… thực sự đã nghĩ kỹ chưa?”

Tống Thế Huyên rót thêm một chén rượu, cười lớn: “Ta vốn từ bụi trần mà tới, hà tất phải sợ quay về lời đàm tiếu của thế nhân? Thanh cao không vướng bụi trần… Trên đời này ngoài thần tiên sẽ chẳng có ai không nhiễm bụi trần. Nếu cứ cả đời ngồi cao trên điện vàng, sống như một pho tượng sáp trong đền thờ, trong cả sử sách lẫn lời đồn thì còn có ý nghĩa gì?”

Hắn nâng chén rượu cụng vào chén nàng, trong mắt dường như có ánh lệ: “Sư mẫu, là ta phải tạ ơn sư mẫu mới phải.”

Dân chúng xung quanh không biết thân phận của họ, Khúc Du cũng không muốn gây phiền hà nhiều nên nhóm Tống Thế Huyên rời đi một cách kín đáo khi mặt trời vừa khuất bóng.

Châu Đàn và Khúc Du đứng trên dốc Hạnh Sơn tiễn họ đi xa, màn đêm buông xuống cho đến khi hoàn toàn khuất dạng.

Khi trở về đình Thiên Ảnh, trăng đã lên đến đỉnh đầu. Dải lụa đỏ buộc trên cây hạnh đã được gột sạch, trở nên mềm mại và linh động, bay lượn theo gió trên cành cây khẳng khiu, đầy vẻ phóng khoáng phong lưu.

Khúc Du đặt một cái lò than trong đình, cùng Châu Đàn đun trà. Nàng hít một hơi mùi thơm lan tỏa, nheo mắt, có chút tinh nghịch hỏi: “Chàng và Tô huynh đã trò chuyện những gì thế?”

Châu Đàn ngước mắt nhìn nàng, ung dung nói: “Nàng đoán xem.”

“Không nói thì thôi vậy.” Khúc Du bĩu môi: “Cùng lắm là chuyện quốc gia thiên hạ, có người nào đó ẩn cư núi rừng rồi mà vẫn không quên lo toan. Thiếp đoán được gì…”

“Quốc gia thiên hạ?” Châu Đàn dường như thấy buồn cười, dùng cổ áo choàng mềm mại lướt qua đỉnh đầu nàng: “Tử Khiêm ở ngay đó, nếu nói chuyện quốc gia thiên hạ, tại sao phải tránh mặt người?”

Khúc Du vội vàng xích lại gần, làm lành: “Vậy các chàng nói chuyện gì thế?”

Châu Đàn tiện tay dùng áo choàng quấn nàng lại, hắng giọng, chậm rãi nói: “Để ta nghĩ xem… Thôi, không trêu nàng nữa. Hắn chỉ nói với ta, phụ mẫu nàng đều khỏe, các muội muội đều bình an. Gần đây họ muốn đến thăm nàng, cả Hướng Văn nữa. Hướng Văn gần đây rất có tiền đồ, danh tiếng trong triều không tồi.”

“Tên nhóc này thật thông minh lanh lợi.” Khúc Du cười híp mắt nói. “Không biết vài năm nữa nếu nghèo khó quá, có thể viết thư cầu xin đệ đệ cứu giúp không.”

Châu Đàn tiếp lời: “Cao cô nương rất nhớ nàng, Chỉ Lăng và bọn họ cũng vậy. Tiểu Yên và A Dương ngày ngày thắng trận, mọi người đều sống rất tốt, Xương Lăng… cũng đã trùng tu xong rồi.”

Khúc Du im lặng một lúc, nước trà trước mặt sôi sùng sục. Nàng chun mũi, cười tươi trở lại: “Mọi người đều tốt, vậy là không còn gì tốt hơn nữa… À, còn chàng, thân thể đã tốt hơn nhiều, sau này chàng muốn làm gì?”

Châu Đàn suy nghĩ cẩn thận, đáp: “Mở một thư viện đi? Chỉ dạy vài đứa trẻ trước và sau dốc Hạnh Sơn… Đợi chúng lớn cả, còn chúng ta cũng thấy chán rồi thì khi ấy cuốn gói đi nơi khác khiến Tử Khiêm và Triều Từ không tìm được. Nghĩ đến đã thấy thú vị vô cùng.”

Khúc Du nghe xong vô cùng kinh ngạc, đưa tay véo má Châu Đàn một cái: “Tốt lắm, thiếp rất thích ý tưởng này, chàng học hư rồi đấy.”

Châu Đàn nắm lấy tay nàng, cùng nàng phóng mắt nhìn ra bên ngoài. Trong màn đêm mờ ảo vọng lại tiếng gió lạnh rít lên. Cơn gió này đi qua hoàng thành, qua núi cao non xanh, qua sông lớn biển rộng, gào thét thổi đến bên cạnh họ.

Khúc Du giơ tay chỉ lên bầu trời, tay áo bay phần phật trong gió lạnh: “Giang sơn muôn thuở vẫn phong lưu…”

Nàng quay đầu lại, ánh mắt rực sáng: “Chàng xứng đáng được khắc ghi giữa chốn này.”

Châu Đàn siết chặt tay nàng thêm chút nữa. Nàng bị một vật lạnh buốt cấn vào, ngước nhìn thấy quả nhiên là chiếc nhẫn ban chỉ bạch ngọc ấy.

“Đây là vật lão sư để lại cho ta.” Châu Đàn thuận tay đeo chiếc nhẫn lên tay nàng: “Nhất định phải để lại cho người trân quý nhất.”

“Đạo bất hành, thừa phù phù ư hải…” (Đạo lý không thể thực thi được, ta sẽ cưỡi bè vượt biển) “Giờ đây, xem như là nàng cùng ta đồng hành phiêu dạt trên biển lớn rồi.”

Khúc Du nắm chặt tay lại, chợt nói: “Nhớ đến một câu thơ chàng đã viết…”

Châu Đàn khẽ nhíu mày: “Câu nào?”

Khúc Du ngâm nga với giọng có chút trêu chọc: “Kiếp tàn hèn mọn đếm ngay trôi.”

Chàng nhớ ra, đó là câu chàng đề trên một tấm bình phong trống trơn khi bị ám sát ở Hình bộ.

Khi ấy chàng thoi thóp kéo dài hơi tàn, mọi ý niệm đều sắp bai biến, chưa từng nghĩ mình có thể gặp được tri kỷ cùng ca hát khúc Bạch Tuyết.

Thế là chàng lập tức tiếp lời: “Về thôi nam thửa, sớm trưa cày bừa.”

Khúc Du hài lòng: “Được thôi, sang xuân sẽ vác cuốc, nên trồng thứ gì nhỉ?”

“Nàng quyết là được.”

Gió đêm se lạnh, không nên nán lại lâu. Đun xong trà, hai người từ đình Thiên Ảnh trở về phòng. Khúc Du xách đèn, nhảy chân sáo đi trước mặt chàng.

Chàng đi chậm lại một bước, khẽ hỏi nàng từ phía sau: “Lịch sử bao la như biển, nàng đã thấy được chân tướng chưa?”

“Thấy rồi.” Khúc Du dừng bước, quay đầu lại, cười rạng rỡ: “Vậy còn chàng, chàng có nhìn thấy thiếp không?”

“Đương nhiên.”

Chàng mở mắt trong khe hở của sử sách, một lần gặp gỡ ‘thánh nhân’, cảm thấu được ý nguyện của nàng, hiểu được lời giải của nàng. Thế là từ đó, sớm tối bên nhau, tri kỷ tương phùng.

Niềm vui khôn xiết.

Hoàn chính văn.

Bình Luận (0)
Comment