06.Dạ U Nguyệt
Châu Đàn tỉnh giấc, trời đã vào lúc chạng vạng tối.
Chàng có chút mơ hồ trở mình, phát hiện mình đang ở một nơi hoàn toàn xa lạ, chẳng phải phủ đệ của chàng, chẳng phải hoàng cung, chẳng phải chiếu ngục, thậm chí cũng chẳng phải nhà của bất kỳ người quen nào.
Trên khung giường gỗ lê hoa treo thanh kiếm văn nhân bạch ngọc đã lâu chưa xuất vỏ của chàng. Thanh kiếm chẳng hay được ai quấn lên một dải lụa đỏ, dải lụa đỏ ấy thắt một nút nơ bướm nơi chuôi kiếm, trông thật tinh nghịch.
Ánh đèn trong phòng mờ tối, hương trầm lượn lờ, mùi tĩnh thủy hương và hương hoa hạnh đan xen.
Chàng ngồi bên mép giường ngẩn người một lát, tiện tay cầm lấy chiếc ngoại bào vắt bên cạnh. Chẳng ngờ, chàng vừa đứng dậy, một chiếc áo lót bằng sa mỏng màu hoa đào của nữ tử đã rơi xuống từ người chàng.
Việc này quả thật khiến chàng kinh hãi một phen. Châu Đàn theo bản năng lùi lại một bước, thậm chí sợ đến mức không dám cúi xuống nhặt chiếc ngoại bào kia. Tay chàng mò sang bên cạnh, lại chạm phải trâm cài, vòng ngọc của nữ tử đặt tùy tiện trên bàn.
Cửa sổ chạm hoa không đóng, cánh hoa được gió đêm nhẹ nhàng thổi vào phòng. Nương nhờ ánh sáng tàn dư của ráng chiều, cuối cùng chàng cũng nhìn rõ, đây rõ ràng là khuê phòng của một nữ nhân.
Châu Đàn cảm thấy một sự hoang đường mơ hồ. Chàng buộc mình phải trấn tĩnh, ngồi xuống bàn trước giường, rót cho mình một chén trà.
Trà đã nguội, nhưng vừa đưa vào miệng, chàng đã không khỏi ngây người. Nước tuyết sương mai, nước suối xuân pha trà. Đây là cách pha trà mà đích thân lão sư đã dạy chàng. Chàng quen rắc thêm chút hoa quế khô vào khi chén trà vừa sôi, ngâm lâu sẽ có vị ngọt thoang thoảng.
Nước trà ở nơi xa lạ này lại do chính tay chàng pha ư?
Hay là… lão sư chưa chết, đây là nhà lão sư? Nhưng trong nhà lão sư nào có nữ quyến.
Châu Đàn thấy đầu đau như búa bổ, chàng vén lọn tóc dài xõa bên tai, tâm trí rối bời mà suy nghĩ.
Ký ức vẫn dừng lại ở đêm tuyết trong chiếu ngục. Sau khi chịu hình phạt, chàng quỳ trên đất, nghe Tống Thế Huyên hỏi trước mặt: “Lão sư, năm xưa người mãi chẳng đến tiểu viện Tê Phong, thực sự không phải vì nguyên do này ư?”
Chàng muốn ngẩng đầu, nhưng đầu như bị đóng băng, nặng trịch chẳng thể cử động. Thế là chàng đành rụt người lại trên đất, run rẩy vì lạnh, không biết là do y phục mỏng manh hay vì lời nói của người đối diện.
Tống Thế Huyên quỳ xuống trước mặt chàng, cởi chiếc hạc sưởng của mình khoác lên người chàng. Mùi Long Diên hương bao bọc lấy chàng, nhưng chẳng hiểu vì sao, chàng lại không cảm nhận được chút hơi ấm nào.
“Tử Khiêm…” Châu Đàn nắm lấy bàn tay hắn đang buộc đai choàng áo cho mình, cuối cùng cũng tìm lại được giọng nói: “Bệ hạ…”
Do mất máu quá nhiều, môi chàng trắng bệch. Tống Thế Huyên chỉ nhìn kỹ vài lần đã không đành lòng nhìn tiếp: “Lão sư, đừng nói nữa… Trẫm sẽ cho người đưa người về nghỉ ngơi cho khỏe…”
“Bệ hạ!” Châu Đàn nắm chặt cổ tay hắn không buông, ho khan vài tiếng nặng nề. Ngoài cửa sổ, tiếng gió gào thét vang lên, nuốt chửng sự bi thương trong lời nói của chàng: “Bệ hạ vẫn luôn nghĩ… thần… đối đãi với bệ hạ như vậy sao? Bệ hạ… vẫn nhìn nhận thần như thế ư?”
Chàng tự xưng là “thần” và không còn gọi “Tử Khiêm” nữa.
Tống Thế Huyên rũ mắt, nhớ lại những ngày dài đằng đắng mà hắn chờ đợi Châu Đàn đến gặp mình ở tiểu viện Tê Phong.
Từ khi có ký ức, hắn vẫn luôn không ngừng lưu lạc. Rừng núi Lâm An, chợ búa Biện Đô, thân là phượng tử long tôn, hắn lại chẳng có chút phẩm giá nào, cho đến ngày Cố Chi Ngôn bí mật tìm thấy hắn.
Vài tên phủ binh bịt mắt hắn, đưa hắn rời khỏi ngôi miếu rách nát mà hắn nương náu. Hắn như rơi vào hầm băng, nghĩ rằng mình đã trốn chạy bấy lâu vẫn không tránh khỏi tai ương. Chẳng ngờ, khi tấm vải đen bịt mắt được gỡ xuống, hắn thấy một ông lão tinh thần quắc thước, gầy gò mà đoan chính xuất hiện trước mặt.
“Thần… xin thỉnh an Vương Tôn.” Cố Chi Ngôn lùi lại một bước, run rẩy hành lễ.
Học trò của ông đứng một bên vội vã tiến lên đỡ lấy.
Cố Chi Ngôn nói rõ thân phận của mình, nhưng Tống Thế Huyên vẫn có chút chẳng dám tin: “Tiên sinh là… Tể phụ đương triều, tự nhiên là trung thành với bệ hạ. Vậy ngài có hay… kẻ đã tàn sát cả nhà ta năm xưa, chính là…”
“Hài tử” Cố Chi Ngôn nắm tay hắn, ánh mắt lộ vẻ bi ai: “Là hoàng tổ phụ con trước lúc lâm chung đã phó thác cho ta, muốn ta bảo toàn huyết mạch cho tổ phụ con, cho phụ thân con… Ta đã tìm con suốt bao năm rồi.”
Tuyên Đế và Cảnh Vương là hai huynh đệ ruột cùng một mẫu thân, tình cảm nhiều năm vô cùng sâu đậm. Nếu không, Tuyên Đế đã chẳng nghĩ ngay đến việc triệu Cảnh Vương về kinh khi nghi ngờ huyết mạch của Đức Đế.
Nếu không phải do Đức Đế điên cuồng hạ độc, không kịp trở tay, có lẽ Tuyên Đế đã thực sự viết lại di chiếu, truyền ngôi cho người huynh đệ mà ông tín nhiệm hơn.
Nhưng tất cả đã quá muộn. Điều cuối cùng Tuyên Đế có thể làm, cũng chỉ là giao một phong di chiếu có lẽ vĩnh viễn không bao giờ được mở ra cho Cố Chi Ngôn.
“Cố Tướng… Trẫm đã chẳng còn ai đáng tin cậy. Sau khi trẫm đi, mong khanh… dốc hết sức lực, bảo toàn một dòng huyết mạch cho hoàng đệ…” Tuyên Đế trước lúc lâm chung, nắm chặt tay vị Tể phụ mà ông tin tưởng. “Nếu Sưởng Nhi… có thể làm tốt ngôi vị hoàng đế này, khanh hãy ra sức phò tá, dạy dỗ hậu duệ hoàng đệ trưởng thành là được. Nếu quả thật…”
Nói đến đây, ông khó khăn ngừng lại: “Nếu ngôi vị hoàng đế không đủ khiêm cung… thì nhường ngôi cho hậu duệ Cảnh Vương… Những thân thế, huyết mạch này, thật giả lẫn lộn, trẫm đã chẳng muốn quản nữa rồi. Khanh hãy thay trẫm giữ lấy Chân Như Cung, giữ lấy… vương triều của trẫm vậy.”
Trong cung rung chuông báo tang Tuyên Đế suốt bốn mươi chín ngày, vạn dân đồng lòng thương tiếc.
Cố Chi Ngôn giấu kín phong di chiếu có thể vĩnh viễn không thấy ánh mặt trời ấy, huy động toàn bộ lực lượng bí mật tìm kiếm hậu duệ Cảnh Vương có thể đang lưu lạc bên ngoài. Trải qua bao năm tháng, cuối cùng ông cũng tìm được Tống Thế Huyên.
Tống Thế Huyên nghe Cố Chi Ngôn kể xong những chuyện cũ này, sống mũi cay xè, không kìm được mà nước mắt tuôn rơi.
Dù sao cũng chỉ là một đứa trẻ, gia tộc bị diệt vong, phải trốn đông trốn tây. Nay cuối cùng cũng tìm được nơi nương tựa, hận thù, đau đớn, may mắn, mơ hồ, bao cảm xúc phức tạp cùng lúc dâng trào, hắn thực sự không thể kiềm chế.
Vị quan trẻ tuổi đứng sau Cố Chi Ngôn thấy hắn rơi lệ, vội vàng tiến lên, khuỵu gối trước mặt hắn, lấy ra từ tay áo một chiếc khăn tay thấm mùi tĩnh thủy hương, nhẹ nhàng lau đi nước mắt cho hắn.
“Tiểu điện hạ, đừng khóc nữa.”
Tống Thế Huyên mắt lệ nhòa nhìn vị ca ca tuấn mỹ trước mặt. Vị ca ca ấy rũ mắt, cung kính và thành khẩn nói với hắn: “Thần là học trò của Cố Tướng, là đầu bảng thủ khoa thi cử mùa xuân năm nay, họ Châu, tên Đàn, tự Tiêu Bạch, chữ Đàn trong đàn hương… Thần sắp ra địa phương làm quan rồi. Nếu tiểu điện hạ không ngại, sau này thần và Tô đại nhân sẽ cùng người đọc sách.”
Một nam tử khác mặc áo lam sam màu sẫm trong phòng quỳ xuống trước mặt hắn, nghiêm chỉnh khấu đầu một cái.
Cố Chi Ngôn dù có lòng muốn đích thân dạy dỗ, nhưng tuổi đã cao, lại thêm việc triều đình bận rộn, không rảnh rỗi như hai người họ. Từ đó về sau, hắn có thêm hai vị tiên sinh trẻ tuổi.
Trong khoảng thời gian tạm trú tại phủ Cố Chi Ngôn, hắn bị hạn chế thân phận, không thể ra ngoài. Vừa hay Châu Đàn chưa rời kinh, nên ngày ngày đến cùng hắn đọc sách.
Tô Triều Từ không phải học trò của Cố Chi Ngôn, việc thường xuyên đến thăm e rằng dễ gây chú ý. Hơn nữa, khoảng thời gian đó chính là lúc án họ Tô xảy ra, hắn đầu tắt mặt tối, không rảnh quan tâm nhiều.
Mỗi ngày bầu bạn với Tống Thế Huyên chỉ có Châu Đàn.
Tống Thế Huyên ban đầu gọi cả hai là tiên sinh, nhưng sau này chỉ khăng khăng gọi Châu Đàn là lão sư. Châu Đàn bất lực sửa chữa mấy lần, hắn không chịu đổi lời, chàng cũng đành thôi.
Tô Triều Từ có lẽ không có kinh nghiệm đối phó với trẻ con, đối với hắn xa cách hơn Châu Đàn dịu dàng nhiều. Hắn kính trọng cả hai, nhưng sâu thẳm trong lòng luôn cảm thấy thân cận hơn với Châu Đàn.
Ngải Địch Thanh, con trai của tâm phúc Cố Chi Ngôn, đã tìm cho hắn một tiểu viện nhỏ bên ven chợ Biện Đô, lại phái nhiều ám vệ bảo hộ. Thế là Tống Thế Huyên từ phủ Cố Chi Ngôn chuyển đến tiểu viện Tê Phong, sống ở đó suốt mấy năm.
Châu Đàn quay về kinh thành sau thời gian làm quan ngoài địa phương, việc đầu tiên là đến thăm hắn. Tống Thế Huyên cung kính hành lễ bái sư, Châu Đàn chọn chữ ‘Khiêm’* trong Luận Ngữ làm tên tự cho hắn.
*Chữ Khiêm (谦) này ý chỉ đức tính khiêm nhường.
Hắn vốn chẳng có ý niệm gì khác. Hắn nghĩ, cứ lớn lên ở tiểu viện Tê Phong dưới sự che chở của các vị tiên sinh, đợi đến khi hoàng đế đương nhiệm băng hà, thân phận của hắn cũng không còn quá nhạy cảm nữa. Hắn sẽ lấy thân phận con nuôi Cố tướng mà cưới thê sinh con, sống một đời bình dị, cũng coi như xứng đáng với cái mạng được song thân liều chết bảo toàn này.
Cho đến khi án Nhiên Chúc xảy ra.
Sau khi Cố Chi Ngôn qua đời, Châu Đàn vào ngục rồi quay sang quy thuận hoàng đế, Tô Triều Từ và Ngải Địch Thanh kín tiếng, không chịu cho hắn biết quá nhiều. Còn hắn chỉ mơ hồ nhận ra, lão sư đã lâu không đến đây.
Lại qua một thời gian nữa, Tô Triều Từ kể rõ chuyện Cố Chi Ngôn và phong di chiếu kia. Tống Thế Huyên chợt hiểu ra ngay lúc đó, Cố Chi Ngôn nhất quyết giữ hắn lại kinh thành, nguyên nhân là vì chuyện này.
Huống hồ, những điều Tô Triều Từ và Châu Đàn đã dạy hắn bấy lâu nay đó đều là học vấn của bậc thiên tử, thuật trị quốc của bậc đế vương.
Tô Triều Từ có chút căng thẳng thành thật với hắn rằng, Tô gia có thù oán cũ với Thái tử, tuyệt đối không thể ủng hộ Thái tử kế vị. Các hoàng tử khác của Đức Đế đều chẳng ra hồn, hắn một lòng hy vọng Tống Thế Huyên có thể kế thừa đại thống.
Vậy còn vị lão sư mà hắn luôn yêu quý thì sao?
Lão sư giờ đang trầm nổi trong chốn quan trường, tâm tư khó lường.
Ngải Địch Thanh mơ hồ nói với hắn rằng nếu có một ngày, hắn trông thấy lão sư lại đẩy cửa bước vào tiểu viện Tê Phong này, điều đó có nghĩa là lão sư đã đưa ra quyết định rồi.
Thế là Tống Thế Huyên kiên nhẫn chờ đợi.
Đối với quyền lực gần ngay trước mắt, dễ dàng chạm đến, trên đời chẳng ai là không khao khát, hắn cũng không ngoại lệ. Huống hồ hắn tận mắt chứng kiến thảm án gia tộc, nói trong lòng hoàn toàn không có thù hận cũng là điều không thể.
Hắn không biết lý do Tô Triều Từ căm hận Thái tử là gì. Lúc đó, danh tiếng Thái tử vẫn còn tốt, cũng coi như cần chính, thương dân. Vậy… lão sư sẽ chọn lựa thế nào đây?
Tống Thế Huyên từ chỗ tự tin nắm chắc, dần trở nên lo lắng bất an, khí phách tiêu tan sạch sẽ.
Hắn thậm chí bắt đầu tự an ủi mình, nếu cuối cùng lão sư không chọn hắn thì ắt hẳn lão sư cho rằng hắn sẽ không làm tốt hơn Thái tử. Lão sư từ trước đến nay luôn đúng. Nếu lão sư đã chọn như vậy, hắn… cứ sống một đời bình lặng như những gì từng nghĩ ban đầu, cũng không phải là không thể.
Đã nhiều năm rồi, hắn không còn nhớ lại cái cảm giác bồn chồn lo lắng này nữa.
Hiện tại ở chiếu ngục, vị lão sư trẻ tuổi năm xưa, người từng khiến hắn cảm thấy cao cao tại thượng, ôn nhu như tiên nhân, giờ thân mình nhuốm máu, hai mắt đỏ hoe gọi hắn là “bệ hạ”. Đã bao năm rồi, đã bao năm rồi chàng không còn gọi hắn là “bệ hạ” khi ở riêng nữa.
Tống Thế Huyên run lên, nhớ lại khoảnh khắc Trình Sơ đưa bảo cáo trạng được sao chép đến trước mặt hắn. Hắn nhìn theo, trong thoáng chốc cảm thấy máu trong người mình đều nguội lạnh đi.
Hoảng loạn. Sự hoảng loạn trống rỗng lập tức bao trùm lấy hắn.
Lão sư… có biết không? Biết rằng thuộc hạ bảo vệ hắn đã từng g**t ch*t người quan trọng nhất của lão sư?
Năm xưa, Bách Ảnh từng nhờ La Giang Đình đưa bản cáo trạng cho hắn một lần, lần đó bị Châu Đàn chặn lại.
Lão sư đã thấy rồi.
Lão sư chắc chắn đã biết từ lâu.
Có lẽ còn sớm hơn những gì hắn tưởng.
Bách Ảnh đã linh cảm được kết cục của mình, nhưng không cam lòng chịu thua, cố gắng cá chết lưới rách để lại một chiêu bài khiêu khích mối quan hệ của họ. Có lẽ Lý Duyên Quân và La Giang Đình lúc đó cảm thấy thời cơ chín muồi, vội vàng ra tay, cũng là nghĩ rằng khi quân thần bất hòa, chỉ cần hắn xem bản cáo trạng này, tuyệt đối sẽ không giữ lại Châu Đàn.
Ai có thể yên tâm để một người có thù sâu như biển với mình làm bề tôi? Ai có thể đảm bảo chàng sẽ không bao giờ sinh lòng phản bội, tuyệt đối không còn hận thù?
Một thăng gạo dưỡng ân nhân, một đấu gạo dưỡng cừu nhân.
Châu Đàn đã giúp hắn quá nhiều, không trả hết, không trả nổi.
Tống Thế Huyên chợt thấy hốc mắt ẩm ướt.
Bọn họ cho rằng mình tính toán không sót một ly, duy chỉ không tin, bao nhiêu năm qua, hắn đối với lão sư là chân tình.
Hắn chỉ rất sợ, sợ Châu Đàn đối với mình không thuần khiết như vậy, sợ chàng phò tá tận tâm không phải vì tình nghĩa với hắn, mà chọn hắn chỉ vì hắn thích hợp nhất.
Bản cáo trạng này, chỉ là giúp cảm xúc của hắn tìm được một lý do để trút bỏ, một lời lẽ có thể thuyết phục chính mình.
Sự lưỡng lự trước khi Châu Đàn bước vào tiểu viện Tê Phong, sự lựa chọn không tiếc hy sinh danh tiếng bản thân để trải đường cho hắn, không màng đến vị trí cao trong triều, cam nguyện cô độc một đời…
Có lẽ không phải vì như vậy, không phải vì hắn thích hợp nhất, mà là trong lòng Châu Đàn không thể buông bỏ được mối thù cũ này nên mới phải làm những việc tốt cho hắn và những việc mà hắn lại bài xích.
Tống Thế Huyên hoàn toàn không nhận ra, những điều này chỉ là lời lẽ do chính hắn tự thêu dệt nên vì quá đỗi hổ thẹn, không biết làm cách nào để bù đắp.
Mà những lời lẽ này lọt vào tai Châu Đàn, câu nào câu nấy đều là lời đâm thấu tim gan, nỗi đau chẳng khác gì lăng trì.
“Hóa ra, trong lòng bệ hạ… thần cũng chỉ tầm thường đến vậy thôi sao…”
Châu Đàn cười tự giễu một tiếng, từ từ buông tay hắn ra. Giọng chàng quá đỗi khẽ khàng, đến nỗi Tống Thế Huyên hoàn toàn không nghe ra được sự tuyệt vọng thê lương ẩn chứa trong đó.
“Hận ư? Có lẽ là có. Thời gian quá lâu, thần cũng chẳng còn nhớ rõ… Không hận ư, điều đó e rằng cũng là… không thể? Xét cho cùng, mối nợ cũ mà ngay cả thần cũng chẳng thể nghĩ thông huống hồ chi là người khác. Việc hận hay không hận này… rốt cuộc đều là tự thần phải gánh chịu.”
Chàng như đang tự nói với chính mình, giọng càng lúc càng nhỏ. Tống Thế Huyên không thể nghe tiếp được nữa, hắn lúng túng đứng dậy, lùi lại vài bước, thậm chí không nhận ra mình nên lau nước mắt. Khuôn mặt hắn lấm lem, nước mắt giăng đầy, đã chẳng còn vẻ tự trọng mà một đế vương nên có.
“Lão sư… trẫm, ngày mai sẽ lại đến, sẽ lại đến thăm người.”
Nói rồi, Tống Thế Huyên như chạy trốn khỏi nơi hành hình u ám. Châu Đàn không ngăn cản, chỉ quỳ tại chỗ, trơ mắt nhìn bóng dáng Tống Thế Huyên hoàn toàn biến mất trong hành lang ánh sáng lờ mờ.
“Ngày mai?”
Chàng lặp lại khe khẽ, cười mỉa hai tiếng, rồi gắng gượng đứng dậy, cúi dập đầu thật sâu về phía bóng lưng hắn.
“Dường như… sắp đến sinh thần của Tử Khiêm rồi, đáng tiếc, đáng tiếc…”
Đáng tiếc ngươi đã không còn cần ta nữa.
Hai tên thị vệ mang đao thúc giục thô bạo, đưa chàng trở lại chiếu ngục.
Châu Đàn thất thần đi theo chúng qua một đoạn tường đỏ son dài hun hút.
Tuyết bên ngoài đã ngừng rơi, thậm chí còn có trăng, chỉ là đêm còn rất sâu, lạnh lẽo và dài thăm thẳm.
Châu Đàn nhìn thấy một tiểu cung nữ đang quỳ bên chiếc vại hứng nước mưa bằng đồng. Nàng búi tóc kiểu song hoàn thấp, cúi đầu thật sâu, chỉ mặc xiêm y đơn bạc, run rẩy vì cái lạnh.
Gần như không hề suy nghĩ, chàng một tay cởi chiếc hạc sưởng mà Tống Thế Huyên để lại trên người mình, khoác lên người đối phương.
Tiểu cung nữ giật mình, ngẩng đầu nhìn chàng. Đôi môi nàng tái nhợt vì lạnh, duy chỉ có đôi mắt trong veo sáng ngời, như vầng trăng sáng trên trời cao.
Thật đẹp, chàng nghĩ, những thứ đẹp đẽ mới nên được giữ lại lâu hơn một chút.
Hình phạt ban nãy có vẻ hơi nặng, tay chàng run rẩy. Mãi lâu sau chàng mới buộc xong dây áo choàng cho tiểu cung nữ đó. Lúc đứng dậy, nhìn nàng thêm lần nữa, chàng bỗng cảm thấy tim đập nhanh không kìm được.
“Quấn chặt vào.” Chàng nói.
Quá muộn rồi.
Tiểu cung nữ run rẩy gọi chàng từ phía sau: “Đại nhân…”
Quá muộn rồi, quá muộn rồi.
Châu Đàn trong bộ trung y đơn bạc trở về chiếu ngục. Hai tên thị vệ mang đao khóa cửa lại, lầm bầm vài câu rồi quay lưng bỏ đi.
Chỉ còn lại một mình Châu Đàn, trước mắt chàng lập tức hiện rõ vẻ mặt Tống Thế Huyên ban nãy, vẻ mặt chợt hiểu ra, mang theo oán hận – Người hận ta, nên mới không chịu đến.
Người hận ta… nên mới phải rời xa.
Chàng chợt thấy rất lạnh, cũng rất muốn cười, nhưng lại không cười nổi.
Người trong chiếu ngục không dám lạnh nhạt với chàng, trong ngục giam thậm chí còn có cả bút mực, nghiên mực và giấy. Nhưng trong đêm đông u ám, lạnh lẽo này, cố tình lại là hôm nay, có người đã dọn đi chăn bông mùa đông của chàng. Có lẽ là sự trừng phạt của ám vệ được phái đến bảo vệ chàng, vì họ không vừa mắt việc chàng khiến thiên tử đau lòng.
Nhưng Châu Đàn đã hoàn toàn không còn bận tâm nữa.
Chàng ngậm đầu bút sạch sẽ, mượn chút hơi ấm cuối cùng của mình chấm vào mực đã đông cứng, đề lên bức tường gạch xanh một câu thơ.
Vừa viết, chàng vừa gần như điên cuồng tự nhủ với khoảng không vô định.
“Mẫu thân, mẫu thân… Con vốn tưởng rằng trên đời này… vẫn còn vài người nhớ đến con, nay lại thiếu đi một người… Bao năm rồi, hóa ra là, quân không hiểu thần, thần… cũng chẳng hiểu quân.”*
*Quân ở đây nghĩa là quân vương.
“Trò cười, thật là trò cười. Cả đời này của ta… sống thất bại thảm hại, chẳng nên trò trống gì. Điều muốn giữ… thì chẳng thể giữ, đã định phải mất đi… vậy chi bằng… chưa từng gặp gỡ?”
“Ha ha ha ha ha ha…”
Chàng ném bút đi, cười rộ lên một cách phóng túng. Sau đó, chàng mới nhận ra mình đang lạnh.
Nước mắt rơi lại càng nóng hổi.
“Mẫu thân, con rồi cũng sẽ… không trụ nổi nữa. Con muốn gặp người, muốn gặp phụ thân, lão sư, sư huynh, và cả… thê tử chưa cưới của con. Con đã khắc tên nàng lên bia mộ của mình… Giờ đây, con cuối cùng cũng có thể đi gặp mọi người, cuối cùng cũng có thể đi gặp nàng ấy rồi…”
Châu Đàn vịn vào bức tường lạnh lẽo, cảm thấy cổ họng dâng lên một luồng tanh tưởi. Chàng ghê tởm mùi vị này, bèn tức giận đâm thẳng đầu vào tường một cái.
Đầu óc choáng váng, nhưng chưa hôn mê, thế là chàng dùng hết sức lực, húc thêm một cái nữa.
Thế giới bỗng trở nên sáng tỏ.
Chàng nhẹ nhõm như trút được gánh nặng, toại nguyện rơi vào bóng tối sâu không thấy đáy.
—
Ngày hôm sau, thiên tử nghe tin, hắn không thể tin được, không kịp chỉnh trang cả dung nhan. Mang theo chiếc miện quan còn chưa búi tóc xong, hắn cùng Chấp chính vội vã chạy đến. Sau đó, trước mặt tiểu cung nữ được Châu Đàn tặng lại chiéc áo choàng, hắn trơ mắt nhìn ngục tốt khiêng xác Châu Đàn ra ngoài.
Tống Thế Huyên gần như không đứng vững. Hắn đờ đẫn mà bình tĩnh ban thưởng cho cung nữ kia, rồi từng bước theo sau ngục tốt, theo sau thi thể Châu Đàn, không chịu buông tay.
Bọn ngục tốt vốn định đốt xác cho xong chuyện, nay thấy vẻ mặt thiên tử, nào dám hành động thiếu suy nghĩ, nhất thời đành phải khiêng thi thể phạm nhân quay về ngục giam tối qua chàng ở.
Mượn một tia sáng lờ mờ từ ô cửa sổ nhỏ, Tống Thế Huyên nắm chặt bàn tay đã lạnh ngắt của Châu Đàn, nhìn thấy trên bức tường gạch xanh có đề một câu thơ.
Tô Triều Từ đi theo sau hắn, ngẩn người nói một câu: “Vài ngày nữa… là tiết vạn thọ của bệ hạ rồi.”
Chàng ngay cả trước khi chết, cũng không đành lòng trách mắng một lời, chỉ để lại cho hắn một lời chúc phúc vĩ đại mà dịu dàng.
— Thần kính chúc người thọ tỷ nam sơn.
— Mong bệ hạ ngàn đời lưu tiếng thơm rạng rỡ.
—
Châu Đàn chợt bừng tỉnh từ những ký ức hỗn loạn đó, tay run đến mức không giữ nổi chén trà, đành phải uống thêm một ngụm.
Mùi vị này thật quá đỗi quen thuộc. Chủ nhân của đình viền này… rốt cuộc là ai. Là ai còn có thể cứu chàng thoát khỏi tường cung lạnh lẽo, tối tăm kia?
Châu Đàn đứng dậy, mặc ngoại bào vào, rồi soi gương chỉnh sửa sơ qua vẻ ngoài. Y phục chàng nửa mở, tóc dài xõa tung, nếu không phải khuôn mặt trong gương giống hệt mình, chàng gần như không dám tin mình lại có lúc như vậy.
Trâm bạch ngọc cài hờ nửa mái tóc, Châu Đàn đẩy cửa bước ra, phát hiện trong tiểu viện này trồng rất nhiều cây hạnh.
Chàng chầm chậm bước dọc theo lối đá lát rêu phong, hồi lâu chẳng thấy bóng người nào. Sân viện trống không, tĩnh mịch không tiếng động.
Cuối lối đi lót đá là cổng lớn của tiểu viện, cổng khép hờ, không đóng kín. Khi ở Biện Đô, nhiều bá tánh bị lời đồn thổi chợ búa kích động, thường xuyên đến trước phủ chàng gây rối, nào dám mở nửa chừng thế này?
Nơi đây… không phải Biện Đô.
Chàng đẩy cổng ra, do dự nửa ngày, còn chưa quyết định có nên bước ra ngoài hay không thì thấy hai người đi tới từ phía tay trái. Dáng vẻ họ cà lơ phất phơ, chẳng chút đứng đắn. Một người còn cõng một đứa trẻ lớn chừng nửa người.
Một người nói: “Trời ơi, nếu nương ngươi biết… thể nào cũng đánh gãy chân ngươi!”
Người kia nói: “Phải đó. Nhị nương xưa nay không cho ngươi chơi với bọn ta, nếu không phải…”
Những lời sau đó quá nhỏ, chàng không nghe rõ.
Đứa trẻ thì lớn giọng kêu lên: “A nương và phu nhân đang trò chuyện vui vẻ, bảo ta lên đây đưa tin. Ta ngã rồi, chân vốn đã gãy, đánh cũng chẳng sao… Đã hứa với a nương rồi, ta phải đến chứ. Tiên sinh giảng Vĩ Sinh ôm cột đợi người*, ta ôm cổ huynh đến, cũng coi như giữ chữ tín rồi!”
*Đây là điển cố cổ nổi tiếng của Trung Quốc, xuất phát từ Trang Tử – Ngoại vật. Vĩ Sinh hẹn với một cô gái dưới gầm cầu, cô gái không đến. Nước lũ dâng lên, nhưng Vĩ Sinh vẫn không rời chỗ, ôm cột cầu mà chết.
→ Vĩ sinh ôm cột đợi người vì vậy trở thành điển tích tượng trưng cho lòng thủ tín, giữ lời hẹn đến cùng, dù phải chết cũng không nuốt lời.
Đang nói thông lý lẽ tà đạo đó, đứa trẻ bỗng nhìn thấy Châu Đàn đang đứng ở cổng.
Nó vội vàng vỗ vai người cõng mình. Vừa nhảy xuống, đứa trẻ liền nhanh chóng chạy tới, chẳng hề có vẻ gì là gãy chân như lời cậu nói.
“Tiên sinh!”
Châu Đàn thấy người lạ, theo bản năng lùi lại một bước, rồi bất ngờ bị đứa trẻ lao tới ôm chầm lấy chân.
“Tiên sinh, sách ngài bảo Phúc Sinh về đọc, Phúc Sinh đã đọc xong rồi!” Đứa trẻ ngẩng đầu lên, cười híp mắt hỏi: “Tiên sinh đang làm gì ở đây vậy?”
Châu Đàn không biết phải nói gì, ngước mắt nhìn hai người đi theo Phúc Sinh lên, dáng vẻ du côn, vô lại kia. Chẳng ngờ hai người đó nhìn chàng một cái, rồi đồng loạt nâng tay hành lễ một cách gượng gạo.
“Bái kiến Châu tiên sinh.”
“Châu tiên sinh, gần đây thân thể có khỏe không, ha ha?”
Thấy Châu Đàn sắc mặt tái nhợt, một người còn tiến lại gần, vẻ mặt quan tâm hỏi: “Châu đại nhân có phải là thân thể không khoẻ không? Có cần chúng ta chạy đi gọi phu nhân về không?”
Phúc Sinh cũng nói theo: “Con đến là để truyền tin giúp phu nhân. Phu nhân nói phải dùng cơm tối với a nương ta rồi mới về. Tiên sinh muốn đến nhà con không?”
… Phu nhân?
Ba người này hoàn toàn xa lạ, lời họ nói chàng cũng chẳng hiểu một chữ nào. Nhưng để không khiến đối phương nghi ngờ, Châu Đàn đành xua tay qua loa. Vừa định quay người trở vào tiểu viện, Phúc Sinh đã nhảy nhót tiến lên, nhét cây kẹo đường thổi trên tay vào tay chàng.
“Con đặc biệt mang đến cho tiên sinh đấy!” Phúc Sinh vẫy tay với chàng. “Tiên sinh bảo trọng, Phúc Sinh xin cáo lui trước!”
Châu Đàn bối rối nhìn cây kẹo hồ lô trong tay, ngẩn người rất lâu.
Khúc Du cáo biệt Nhị nương về nhà, mặt trời vừa lặn khỏi đường chân trời.
Nàng vốn muốn ở lại thêm chút nữa, chỉ là khi Phúc Sinh trở về, cậu nói thấy Châu Đàn sắc mặt không tốt, có lẽ là không khỏe. Nghe xong, lòng nàng bất an, rốt cuộc vẫn trở về sớm hơn.
Trong sân không thắp đèn, ngay cả chiếc đèn lồng thường treo trước cửa hai người cũng không thắp lên.
Chiếc đèn này là thứ nhất định phải thắp vào mỗi đêm. Khúc Du không có nhà, đa phần là do Châu Đàn tự tay thắp. Chàng quên rồi ư?
Trưa nay Châu Đàn cảm thấy uể oải, hiếm khi được rảnh rỗi, Khúc Du bèn để chàng một mình ở nhà ngủ nửa ngày. Vừa rồi nghe Phúc Sinh nói sau khi thức dậy chàng còn thấy không khỏe, hôm nay không thắp đèn, chẳng lẽ là chàng lại hôn mê rồi sao?
Nàng càng thêm lo lắng, rón rén đẩy cửa phòng, lại cẩn thận khép lại. Quay người lại mới thấy trong nội thất đã có ánh sáng mờ ảo.
Khúc Du thở phào nhẹ nhõm, vén lớp lớp sa mạn rủ xuống trước mặt mà bước vào. Vừa đi vừa cằn nhằn: “Làm ta sợ chết đi được, chàng…”
Lời chưa dứt, nàng đã nghe thấy một âm thanh rất nhỏ, xé rách không khí. Ngẩng mắt lên, nàng thấy Châu Đàn đang ngồi ngay ngắn trên giường nhìn nàng bằng một ánh mắt lạnh lùng, vô cùng xa lạ. Thanh kiếm văn nhân bạch ngọc trong tay chàng đã tuốt trần, mũi kiếm dừng lại cách nàng một tấc.
“Chàng…”
“Ngươi là ai?”
Khúc Du chớp chớp mắt, lặp lại câu hỏi của chàng: “Ta… là ai?”
Trong phòng chỉ thắp một ngọn nến, ánh lửa leo lét trong bóng tối. Thần sắc Châu Đàn ẩn hiện sau ánh nến, u ám khó lường: “Cô là ai? Đây là… nơi nào?”
Chàng vốn tưởng mình giơ kiếm đã tạo thành uy h**p, nào ngờ nữ tử đối diện lại hoàn toàn ngoài dự liệu của chàng, nàng chẳng hề sợ hãi, nghênh đón mũi kiếm bước tới vài bước, còn đưa tay khinh suất búng nhẹ vào thân kiếm.
Trong phòng tĩnh mịch phát ra tiếng kim loại vọng lại.
Nàng đến gần hơn, Châu Đàn mới nhìn rõ dung mạo của nàng.
Nàng có đôi mắt cười chứa chan tình ý, đẹp đến mức vô cùng trong trẻo. Tuy nàng thích mặc màu hồng phấn, nhưng chẳng có một phần yêu điệu lẳng lơ nào, mà thay vào đó là sự thanh thoát, dịu dàng, tựa vầng trăng.
Dường như… còn có vài phần quen thuộc.
Chàng vừa thoáng mất thần, đã bị đối phương khẽ nắm lấy mũi kiếm, nghiêng mình nhặt lên chiếc áo sa mỏng màu hoa đào vừa rồi từ giường bên cạnh.
Nàng ném chiếc áo lót nữ tử đó về phía chàng, hờn trách: “Châu đại nhân lại còn phải hỏi thiếp là ai ư?”
Châu Đàn bị hành động bỗ bã hoàn toàn không hợp với vẻ ngoài của nàng làm cho kinh hãi, trong thoáng chốc mặt đỏ bừng, suýt không cầm chắc thanh kiếm trong tay: “Cô, cô quá phận!”
“Quá phận?” Khúc Du thấy có chút buồn cười, chợt lại sinh nghi: “Đừng đùa nữa. Hôm qua chàng ngủ không ngon sao?”
Châu Đàn lại hỏi: “Hiện tại… là năm nào, tháng nào?”
Nàng đã nói “đừng đùa nữa”, đối phương lại chẳng chịu hạ kiếm xuống.
Khúc Du cuối cùng cũng nhận ra có điều chẳng lành, không khỏi dịu giọng, hỏi ngược lại: “Châu đại nhân cho rằng, hiện tại là năm nào, tháng nào?”
Châu Đàn nhíu mày, cảm thấy đầu vẫn rất đau: “Trọng Cảnh, Trọng Cảnh… Không đúng. Cô làm sao cứu ta ra khỏi chiếu ngục? Rõ ràng ta đã… Chẳng lẽ, ta chưa chết?”
Chàng có vẻ thống khổ tự lẩm bẩm. Khúc Du lại từ mấy lời đó chắp nối ra được ý của đối phương. Nàng có chút không thể tin nổi, đành thuận theo suy nghĩ của mình mà hỏi: “Tể phụ đại nhân… trước đây có phải đã ở trong chiếu ngục? Chàng sau khi dứt mọi chân tình với bệ hạ, vạn ý niệm đều bay biến…”
Nàng còn chưa nói xong, Châu Đàn đã quát lên: “Rốt cuộc cô là ai?”
Chuyện kín đáo như vậy, nàng lại biết rõ mười mươi ư?
Lời chàng vừa dứt, nữ tử trước mặt lại bất ngờ quỳ sụp xuống bên chân chàng.
Thanh kiếm văn nhân bạch ngọc tuột khỏi tay, Châu Đàn lùi lại một bước. Nữ tử ngẩng mặt nhìn chàng, mặt mang ý cười, nhưng mắt lại ướt lệ: “Đại nhân đêm qua… đã để lại chiếc hạc sưởng trên người người cho ta, sao mới cách nhau chẳng bao lâu, nay đã quên sạch rồi?”
“Cô…” Châu Đàn môi run run, muốn đỡ nàng dậy, nhưng lại không thể dẹp bỏ nghi ngờ trong lòng: “Vậy ta…”
Nhưng chàng còn chưa hỏi ra lời, nàng đã tiếp lời: “Đêm qua quá lạnh, ta không kịp nói với đại nhân… Đại nhân, ta họ Khúc, chữ Khúc chính là… chữ khắc trên bia mộ mà chàng tự khắc cho mình đó…”
Châu Đàn nhất thời chưa tiêu hóa được lời nàng nói. Khi phản ứng lại, chàng đã hoàn toàn sững sờ.
“— Cô nói gì cơ?”
Khúc Du ôm lấy chân chàng, cố nén cảm xúc đang trào dâng trong lòng: “Đại nhân, là ta… Năm xưa phụ thân bị lưu đày, mẫu thân qua đời, ta không chết, ở lại trong cung làm nô tỳ. Sau khi Vân Nguyệt mất, ta không còn thân phận nào nữa, lại không muốn để đại nhân thấy bộ dạng này nên từ trước đến nay mới…”
“Đại nhân, vẫn luôn có người… dõi theo chàng.” Nói đến đây, nàng bỗng thấy mình chẳng thể nói tiếp được nữa. “Ta từng lén đưa thuốc trị thương cho chàng sau khi bị tiên đế phạt hình trượng. Mỗi sáng sớm, ta đều quét tước ở cổng Đông Môn, gió lạnh thấu xương, chỉ để sau khi tan triều sớm được nhìn chàng một lần… Ta đã thuộc lòng tất cả thơ ca của chàng… Đêm qua, ta liều chết trà trộn từ bên cạnh Đình phi vào chiếu ngục, muốn đưa ít thuốc trị thương cho chàng. Bị nương nương phát hiện nên mới bị phạt quỳ bên hàng lang. Đại nhân…”
Châu Đàn vốn hoàn toàn không dám tin lời nàng, nhưng chỉ trong tích tắc, nàng đã khóc nức nở không thành tiếng, thút thít đến mức gần như không nói được trọn vẹn câu chữ. Khuôn mặt xinh đẹp đẫm lệ, trông thật đáng thương.
Chàng đành cúi người xuống, muốn đỡ đối phương dậy trước.
Khúc Du lại trực tiếp ôm lấy cổ chàng, những giọt nước mắt nóng hổi lăn xuống gáy chàng: “Chàng đừng… đừng bao giờ làm ra chuyện như vậy nữa. Vẫn còn người, còn người yêu chàng, quan tâm chàng. Chàng cũng là hy vọng để ta… tự mình sống tiếp đó.”
Châu Đàn quỳ ngồi trên đất, nhìn nữ tử vùi đầu vào vai mình khóc đến xé lòng. Chàng đưa tay lên, muốn vỗ về lưng nàng, nhưng mãi chẳng hạ tay xuống.
Trong lòng chợt xẹt qua nỗi đau đớn quen thuộc và sắc nhọn. Cuối cùng, chàng không kìm được, vẫn cẩn thận ôm lấy nữ tử trước mặt vào lòng, run giọng an ủi: “Đừng, đừng khóc nữa.”
Vừa nói xong câu này, chàng cũng thấy sống mũi mình cay xè, gần như muốn cùng nàng rơi lệ: “Khúc cô nương, nàng… thật sự chưa chết? Bao năm rồi… lẽ ra nàng nên đến tìm ta, ít nhất… cũng không phải chịu nhiều khổ sở đến vậy.”
Khúc Du không ngờ chàng lại nói ra những lời này trước. Nàng đưa tay quệt nước mắt, muốn nặn ra một nụ cười, nhưng vẫn chỉ có thể thút thít nói: “Được, được, ta không khóc nữa… Đại nhân, ta không chết, chàng cũng, chàng cũng không chết. Chàng có biết không, sau khi chàng tự vẫn trong chiếu ngục, trời cao đã cho chúng ta rất nhiều cơ hội làm lại…”
Sau khi kể hết mọi niềm vui, nỗi buồn của kiếp này, trời đã về khuya.
Nàng kể quá tường tận, quá vi diệu, Châu Đàn từ lúc nghe nàng nói xong chuyện biến cố gia môn đã hoàn toàn tin nàng.
Chàng ôm nàng, nghiêng mình tựa vào chiếc trường kỷ trước cửa sổ. Mỗi khi nghe nàng kể đến đoạn thương tâm, chàng lại vô thức ôm chặt nàng hơn.
Thần trí rã rời, Khúc Du lấy khăn tay lau đi nước mắt của mình, rồi lau cả nước mắt của chàng. Ngón tay lướt qua gò má chàng, bị chàng giữ chặt cổ tay lại.
“Rồi sao nữa?”
Nàng nghe thấy giọng chàng khẽ khàng hỏi.
“Nàng kể đến… sau khi ta chết trong chiếu ngục, nàng được thả ra khỏi cung. Sau đó, nàng đã làm gì?”
Những ký ức này quá đỗi đau khổ, khó mà nhìn lại. Nhưng Khúc Du đã nếm đủ sự khổ sở của việc không chịu thành thật, lúc này có hỏi gì nàng cũng đáp: “Ta đã tìm thấy điều ước năm xưa chàng buộc trên cây ước nguyện ở chùa Tụ Thanh… Dẫu biển dậy sóng trào, vẫn giữ trọn bản tâm, chàng đã làm được. Điều chàng ước cho ta… ta đã giữ lại sợi lụa đỏ đó, trèo tường trốn khỏi chùa Tụ Thanh.”
Nàng nằm trên đùi chàng, mái tóc dài xõa ra, mềm mại như áng mây. Châu Đàn yêu thương vuốt tóc nàng, nhớ đến hai người họ đến lúc chết cũng chưa từng kết tóc thành phu thê.
“Ta đã đi rất lâu, rất lâu, tránh lính canh. Khi tìm thấy gò đất nơi chàng được chôn cất, váy áo đã bẩn đến không thể tả được.” Khúc Du mơ màng kể, chuyện váy áo bị bẩn hình như khiến nàng rất không hài lòng. “Ta đã nhìn thấy những tấm bia mà chàng dựng… ta vốn chỉ muốn đến nhìn chàng một lần, nhưng trên bia của chàng lại khắc tên ta.”
Châu Đàn khẽ giật mình.
“Ta còn gì vương vấn ở nhân gian nữa đâu… Trước khi rời cung, ta còn đi cầu xin tiểu Tô đại nhân tìm các muội muội của ta, cho các muội rời đi… Nghe nói, phụ thân và đệ đệ ta năm xưa còn chưa đến nơi lưu đày đã lâm bệnh mà qua đời.” Nàng mở mắt, nhìn ngọn nến trong phòng gần như đã cháy hết, ngây dại nói: “Đa tạ… hóa ra năm xưa chàng khắc bia còn vì ta mà lưu lại nơi nương náu cuối cùng. Ta cũng coi như… có nhà rồi. Không về nhà, còn có thể đi đâu được nữa?”
Đầu óc chàng vẫn còn quay cuồng, ngón tay lạnh buốt, ngực trước khó chịu vô cùng. Một cảm giác tuyệt vọng và bi thương quen thuộc khiến Châu Đàn không kìm được run rẩy.
— Đừng.
“Ta đã buộc sợi lụa đỏ đó lên cái cây trước mộ chàng. Có thể chết cùng chàng, quả là chuyện tốt đến nằm mơ cũng không dám nghĩ.”
Ngọn nến đã cháy đến cùng.
—
Hôm sau tỉnh lại là giữa trưa. Hôm nay trời không đẹp, u ám mờ mịt, nhưng có mây mà không mưa. Khúc Du thức dậy đi gọi Châu Đàn, nghe chàng nói một câu: “Ta vẫn còn hơi mệt.”
Thế là nàng sắc một chút thuốc an thần cho chàng. Uống xong, Châu Đàn tiếp tục hôn mê. Khúc Du đẩy cửa phòng bước ra, chưa đi được mấy bước, đã nghe thấy tiếng người gọi ở cổng viện: “Phu nhân!”
Nàng chậm rãi ngẩng đầu, phát hiện người gọi mình là Nhị nương.
Nhị nương đặt xuống một giỏ hạnh khô trong tay, vẫy tay gọi nàng qua: “Phu nhân quên rồi sao? Hôm qua đã hẹn đến tìm ta uống trà dạo phố, sao lại nói không đến là không đến nữa? Có phải thân thể không khỏe không?”
Hình như đúng là có chuyện này. Khúc Du gật đầu bừa, vốn định nói Châu Đàn không được khỏe, hẹn hôm khác gặp lại. Nhưng lời ra khỏi miệng lại biến thành: “Nay vẫn chưa muộn, đang là giờ cơm trưa. Phu quân đang nghỉ ngơi, ta cùng Nhị nương xuống núi đi.”
Nhị nương cười nói: “Vậy được, thật tốt.”
Khúc Du giật mình vì lời mình vừa nói ra. Nàng đi theo Nhị nương được hai bước, vì tinh thần hoảng hốt, còn bị vấp ngã ở ngưỡng cửa của tiểu viện một cái.
Nhị nương vội vàng tiến lên đỡ nàng: “Phu nhân, cẩn thận!”
Sau khi bà nói câu này, Khúc Du cuối cùng cũng nhận ra điều bất thường! Tình cảnh này… quá đỗi quen thuộc. Rõ ràng hôm qua đã xảy ra một lần rồi!
Nàng đột nhiên đuổi theo, nắm lấy tay Nhị nương: “Nhị nương, hôm nay là… ngày mười mấy tháng hai?”
Nhị nương khó hiểu đáp: “Mười hai tháng hai. Hôm nay chính là Tiết Hoa Triêu, hôm qua phu nhân còn nói, ăn cơm xong sẽ đi hái vài cành hoa về mà.”
Khúc Du nhắm mắt lại, nhớ rõ ràng ngày nàng cùng Nhị nương xuống núi hôm qua, chính là mười hai tháng hai.
Nàng dường như… đã rơi vào một vòng lặp kỳ lạ nào đó?
07. Khi tuyết tan
Châu Đàn quay người lại, nhìn về phía Tô Triều Từ đang đứng trong màn mưa bụi mịt mờ.
Tô Triều Từ không mặc quan phục, chỉ đơn giản khoác chiếc lan sam màu xanh thẫm, hệt như lần đầu họ gặp nhau. Đai ngọc thắt giữa eo hơi nới lỏng, gần đây hắn đã gầy đi một chặp, mắt đỏ hoe, thần sắc mệt mỏi.
Châu Đàn liếc nhìn hắn, mỉm cười hỏi: “Mọi việc đã giải quyết xong, sao Tô huynh không vui vẻ?”
Chủ thuyền còn chưa đến, mặt dòng suối trong veo trước mặt bao phủ một lớp sương nước dày đặc.
Tô Triều Từ chăm chú nhìn mặt nước thất thần, hồi lâu mới mở lời, giọng khàn đặc không tả nổi: “Bệ hạ… cũng muốn đến, muốn đến tiễn ngươi.”
Châu Đàn rũ mắt, hồi lâu không nói gì.
Đang là độ đầu xuân, dòng suối mới tan băng chừng ba bốn ngày. May mắn là mấy hôm trước trời nắng ráo, băng nổi đã tan hết sạch, nhưng trên mặt đường vẫn còn tuyết đọng sót lại.
Vừa lúc nói chuyện lại đổ xuống một trận mưa phùn bay lất phất.
Bên bờ sông có gió thổi, giữa tiếng nước chảy, tiếng gió và tiếng mưa, Tô Triều Từ giương dù lên, nghe Châu Đàn bình thản nói: “Thôi vậy.”
Tô Triều Từ đau đớn nhắm mắt lại, day day mi tâm, như tự nhủ thốt lên: “Ta không biết giữa hai người rốt cuộc vì chuyện gì mà lại thành ra thế này… Hai người đều không chịu nói cho ta hay. Tử Khiêm nửa đêm triệu ta vào cung, ta đã lâu lắm rồi không thấy người khóc như vậy… Ngày hôm sau hai bọn ta đi đón ngươi, ngươi một lời thừa thãi cũng không chịu nói…”
“Đừng nói nữa.” Châu Đàn ngắt lời hắn, khóe môi khẽ cong lên cười tự giễu, nhưng chẳng cười nổi.
Tô Triều Từ nói: “Nhưng ta thật sự không hiểu!”
Châu Đàn đưa tay đỡ lấy cánh tay hắn, ngước mắt nhìn hắn, khẩn thiết hỏi: “Triều Từ, huynh có tin… trên đời này có thứ tình nghĩa kiên cố không thể phá vỡ không?”
Tô Triều Từ nhất thời sững lại, ngây người không đáp lời.
“Huynh thấy đó, huynh không tin.” Châu Đàn cười nói: “Trên đời này… đại để chẳng có mấy người tin. Dù có nói tin, cũng chỉ là để dỗ người khác vui lòng mà thôi. Nhưng ta thì… ta lại tin tưởng một cách chân thành. Con người một khi có chấp niệm, sẽ sinh ra si mê. Luôn cảm thấy người khác cũng nên si mê như mình mới không phụ lòng ta. Giờ nghĩ lại, người khác vì lẽ gì phải xứng đáng với ta chứ? Mọi việc ta làm, đều xuất phát từ chính lòng ta. Ngàn điều ước, vạn nỗi niềm, ta cam tâm tình nguyện trao đi, cầu sự toại nguyện, cầu sự an lòng. Người khác không có lỗi với ta, chúng ta không ai nợ ai… Đạo lớn như trời xanh, ta một mình không thể thoát, đại để… cũng bởi ta quá si mê mà thôi.”
Tô Triều Từ khựng lại một lát, khẽ nói: “Trong thiên hạ, chưa bao giờ thiếu kẻ si… Ngươi chính là đã trải qua rất nhiều chuyện nhưng vẫn luôn ôm giữ những kỳ vọng ban sơ ấy nên mới tự làm mình thất vọng hết lần này đến lần khác. Tiêu Bạch, ngươi… vẫn là người cầm kiếm ôm giữ lý tưởng như thuở ban đầu. Còn ta, đã sớm mục ruỗng không chịu nổi rồi. Người thiếu niên ngây thơ trong Quỳnh Lâm Dạ Yến năm xưa, từ đầu đến cuối… chỉ có một mình ngươi. Ta cũng, rất ngưỡng mộ ngươi.”
Thuyền từ trong làn sương trắng lướt đến.
Tô Triều Từ nói tiếp: “Mỗi thời đại luôn cần có những kẻ si mê, mang theo lòng dạ ngây thơ không hề mất đi cho đến tận khi chết. Họ lấy thân mình hy sinh, lấp bằng con đường gian truân dưới bầu trời xanh gồ ghề để hậu bối không đến nỗi như ta và ngươi, phải dốc cạn tâm huyết mới mong thấy được giang sơn tuyết tan, cây cỏ xanh tươi trở lại.”
Châu Đàn nghiêng đầu nhìn hắn. Tô Triều Từ xoa xoa chuỗi hạt phật châu ngũ sắc bên tay, đối diện với chàng. Chỉ trong chốc lát, mắt cả hai đều đỏ hoe.
“Ta nhớ bức thư bộc lộ tâm can huynh viết, ‘biết người nói tuyết trắng bay, tan chảy rồi ngậm ngùi thay’… Ta không phải là vị tiên bị đày ở Bích Hải Đông Ngu trong lòng huynh, cũng chẳng phải hạc trắng cô độc lẻ loi kêu vang trong đêm tối. Con đường này, ta đã đi, huynh cũng đã đi. Dấu vết chồng chất lên nhau, ai là bên ngoài, ai là bên trong, không còn quan trọng nữa.”
“Ha ha ha ha…”
Hai người cùng nhau ngửa mặt lên trời cười lớn bên bờ sông. Từ khi quen biết đến nay, đã bao nhiêu năm họ không còn được cười sảng khoái, phóng túng như thế.
“Dương Quan ca dứt, lệ buồn chưa khô,Châu Đàn bước lên thuyền, ngâm xong bài thơ này, mới quay lại nói với hắn: “Con đường ta muốn đi đã đến điểm cuối rồi. Con đường này rốt cuộc có thể trở thành con đường bằng phẳng dưới trời xanh hay không, huynh còn phải đi rất lâu nữa. Chỉ mong sẽ không phụ kỳ vọng của ta và huynh.”
Tô Triều Từ gào lên phía sau chàng: “Ta thề với ngươi… tuyết này, rồi sẽ có ngày tan!”
Châu Đàn trong màn sương mù dày đặc, đặt bút viết xuống bài thơ tiếc thương thê tử đã khuất.
“Phải đó, tuyết… rồi sẽ có ngày tan.”
Chàng nhìn bóng Tô Triều Từ trên bờ dần trở nên mờ ảo, cuối cùng bị màn sương mù trống rỗng nuốt chửng.
“Sau khi tuyết tan, thế giới này… chắc chắn sẽ khác đi thôi.”
Ông chủ thuyền không biết thân phận của chàng, đến chào hỏi: “Đại nhân… Boong thuyền ngoài này lạnh, chi bằng vào trong sớm một chút.”
Châu Đàn cười đáp: “Được.”
Khi cúi người bước vào khoang thuyền, Châu Đàn lẳng lặng nghĩ, Tô Triều Từ tuy đã quen biết chàng rất lâu, nhưng cũng như lúc mới gặp, hắn rốt cuộc vẫn khác chàng, không hiểu chàng đến mức ấy.
Mà chàng cũng không đến nỗi vô phúc, đã từng gặp được tri kỷ tương tri tương ái. Đáng tiếc, nàng lại như tuyết mới trên giang sơn cũ, trước khi mặt trời mọc đã vội vàng tan chảy, không để lại dù chỉ một giọt nước.
Châu Đàn một mình trở về Lâm An, mua một tiểu viện ở ngoại ô thành. Trong viện đó trồng rất nhiều, rất nhiều cây hạnh, chàng vô cùng thích.
Đã rất lâu rồi chàng không còn nhớ đến thê tử đã khuất. Chàng ngồi dưới gốc cây hạnh hồi tưởng lại dáng vẻ của đối phương, lại thấy hơi không nhớ nổi, đành phải lục tung rương hòm tìm ra bức họa.
Sau khi nàng mất, chàng khóa bức họa này sâu dưới đáy hòm, không dám nhìn một lần.
Nhìn thêm một lần, cảm giác mất mát nặng nề, u ám đó sẽ siết chặt lấy chàng, khiến mọi ý niệm của chàng trở nên vô vị. Chuyện thế gian, vốn dĩ đều vô vị.
Nhưng trước đây ở Biện Đô, trăm công nghìn việc, gánh nặng lôi đình vạn quân đè nặng trên vai, chàng không dám lơi lỏng một khắc, sợ mình không chống đỡ nổi, mọi sự thất bại ngay trước khi hoàn thành.
Giờ đây cuối cùng cũng có cơ hội, có thể phóng túng nhìn cho thỏa thích.
Bức họa chỉ có một. Là sau khi cưới, nàng mời người đến vẽ. Dòng chữ một bên là do chính tay nàng đề.
“Một áng mây trắng lặng lẽ phiêu du, cây phong xanh bến nỗi buồn chẳng nguôi.”
Ngày đầu tiên dọn vào tiểu viện, Châu Đàn ngồi ở cuối hành lang, ngây người nhìn bức họa thê tử đã khuất suốt một buổi chiều.
Mãi đến khi trời gần tối, chàng mới hoàn hồn. Vốn định vịn cột hành lang đứng dậy, lại thấy trên chiếc rương vừa lật tung để tìm tranh đặt sừng sững thanh kiếm văn nhân bạch ngọc mà chàng đã rất nhiều năm không thấy.
Thanh kiếm do mẫu thân tặng. Sau này chàng vào triều làm quan, ít khi động thủ với người khác, bèn cất nó đi.
Mà hôm nay nó lại xuất hiện ở đây, có coi là một ám thị đã được định mệnh sắp đặt chăng?
Kiếm tuốt vỏ, ánh sáng lạnh lẽo, đáng sợ.
Thế là Châu Đàn bật cười.
Khúc Du vẫn còn nhớ kiếp trước nàng đã từng mơ thấy khi bị Tống Thế Diễm giam giữ trong đại lao Hình bộ.
Kiếp thứ nhất, Châu Đàn chết trong chiếu ngục.
Kiếp thứ hai, nàng không còn là tiểu cung nữ quỳ dưới tuyết nữa, thế nên Châu Đàn khoác chiếc hạc sưởng của Tống Thế Huyên, viết trên tường ngục giam câu “Mong bệ hạ ngàn đời lưu tiếng thơm rạng rỡ”, rồi một mình trở về Lâm An.
Chàng đã ước nguyện chịu bệnh tật thay nàng, thế nên sau đó, sau khi song thân qua đời, chàng lâm một trận bệnh nặng, dần suy nhược, không còn luyện võ nữa. Vì vậy, kiếp thứ ba chàng chết vì bệnh tật.
Trong đó, điều mà nàng cố ý bỏ qua, chính là sự lựa chọn của Châu Đàn ở cố cư Lâm An trong kiếp thứ hai. Lý do không gì khác, ký ức này thực sự quá đau đớn.
Khúc Du đến nay vẫn còn nhớ, nàng trong hình dạng u hồn đứng dưới gốc cây hạnhnở đầy hoa trước mặt Châu Đàn, trơ mắt nhìn chàng rút ra thanh đoản kiếm bên cạnh, mặt vô cảm cứa vào cổ tay mình.
Máu chảy lênh láng trên đất hòa lẫn vào những cánh hoa hạnh. Chàng chẳng hề bận tâm nắm chặt chiếc nhẫn ban chỉ bạch ngọc kia, yếu ớt ước nguyện.
“Đừng bao giờ gặp lại ta nữa… Ta sẽ cách mọi người thật xa…”
Nàng điên cuồng lao tới, muốn bịt kín vết thương cho chàng, nhưng hoàn toàn vô ích. Nàng chỉ có thể quỳ trước mặt chàng, nhìn sinh mạng chàng từng chút từng chút trôi đi.
“Không tính, ước nguyện gì thế này! Đều không tính!”
Châu Đàn trước khi chết đã dùng máu chấm vào bức họa để lại di ngôn, tặng hết gia tài, hy vọng người liệm sẽ chôn cất chàng cùng di cốt của phu nhân trong chiếc hũ sành ở dốc Hạnh Sơn sau tiểu viện.
Máu tươi nhuộm đỏ thanh kiếm dài, văng lên bức họa được lưu lại khi hai người còn tình nồng ý thắm.
—
“… Phu nhân!”
Khúc Du xoa xoa đầu, một mình bước trên đường về nhà.
Nàng như đang mơ. Đầu tiên là cùng Nhị nương xuống núi, sau đó mọi chuyện giống hệt trong ký ức hôm qua: thêu thùa, thưởng trà, ủ rượu, mua một chậu cây hạnh ở chợ, rồi lại quên nó ở nhà Nhị nương.
Nếu mọi chuyện đều giống hệt hôm qua, vậy khi về đến nhà, nàng sẽ thấy… Nghĩ đến đây, Khúc Du không khỏi bước nhanh hơn, cuối cùng chạy như bay.
Nàng thở hổn hển đẩy cổng lớn biệt viện Hạnh Hoa, còn chưa kịp điều hòa hơi thở thì vừa vặn bốn mắt nhìn nhau với Châu Đàn bước ra từ trong phòng. Chàng ngẩn người nhìn nàng, hồi lâu mới run rẩy đưa tay ra, không thể tin nổi cất tiếng gọi: “A Liên…”
Không giống hôm qua!
Khúc Du không kịp kinh ngạc, vội vàng chạy tới, nắm lấy bàn tay chàng đang đưa ra: “Là thiếp… là thiếp đây.”
Châu Đàn v**t v* khuôn mặt nàng, nước mắt vô thức rơi xuống. Chàng không dám tin, run rẩy xác nhận hết lần này đến lần khác: “Nàng còn sống… nàng còn sống, ta lại có thể gặp lại nàng.”
Trong niềm vui bất ngờ, chàng theo bản năng nhìn xuống cổ tay mình.
Da thịt nhẵn nhụi, nguyên vẹn, không có vết sẹo.
Chỉ nhìn thoáng qua, Khúc Du đã hiểu ra. Đây không phải là chàng của ngày hôm qua. Hôm qua là Châu đại nhân chết trong chiếu ngục. Hôm nay là phu quân tự vẫn trong biệt viện Hạnh Hoa của nàng.
“Sao nàng lại ở đây? Ta, sao ta lại ở đây?” Châu Đàn ôm chặt nàng vào lòng, gần như nghẹt thở. “Bao nhiêu năm rồi… Nàng ngay cả trong giấc mộng của ta cũng chưa từng xuất hiện.”
Châu Đàn còn đang thổ lộ nỗi lòng với nàng, bên ngoài biệt viện chợt vang lên một giọng nói vui vẻ: “Huynh trưởng, tẩu tẩu!”
Kể từ khi họ ẩn cư tại biệt viện Hạnh Hoa, người ở Biện Đô đến thăm thường xuyên nhất chính là Châu Dương.
Tuy bình thường hắn phải theo Yên Phục hành quân đánh giặc, nhưng nay Tây Cảnh đã yên bình, hắn lại đang tuổi tráng niên, cưỡi ngựa ba ngày ba đêm cũng không thấy mệt. Hễ rảnh rỗi, hắn sẽ phi ngựa suốt đêm, gấp gáp đến Lâm An thăm họ.
Hôm nay thật trùng hợp, hắn cũng đến Lâm An ư?
Khúc Du nhớ rõ ràng, hôm qua hắn không hề đến.
Châu Đàn nghe thấy giọng nói này, hoàn toàn sững sờ. Chàng đứng ngây ra hồi lâu, mãi mới quay người lại được, khó khăn hỏi nàng: “Là… A Dương sao?”
Khúc Du gật đầu, đi mở cửa cho Châu Dương. Châu Dương xách theo một bầu rượu mới, hớn hở bước vào: “Tẩu tẩu, rượu ngon biên cảnh mà ta và Tiểu Yên tướng quân đã hẹn nhau, tẩu và huynh trưởng nhất định phải nếm thử…”
Lời chưa dứt, hắn đã thấy Châu Đàn đứng trước thềm, mắt đỏ hoe.
Trong ký ức của hắn, huynh trưởng rất ít khi lộ ra vẻ yếu đuối tột độ như vậy: “A Dương?”
“Huynh trưởng…” Châu Dương gãi đầu, tiến lại gần. “Huynh sao thế?”
Khúc Du xách bầu rượu Châu Dương vừa tặng, chợt nhớ ra, đây là Châu Đàn của kiếp thứ hai.
Trong những khe hở thời không mà nàng không nhìn thấy, kiếp thứ hai đã xảy ra chuyện gì?
“Không sao, ta chỉ là…” Châu Đàn siết chặt vai hắn, lẩm bẩm đáp: “Chỉ là quá nhớ đệ, quá nhớ mọi người. Giờ ở âm tào địa phủ có thể gặp lại, thật sự là…”
Thấy trạng thái chàng không ổn, Khúc Du lập tức bước tới, nhỏ giọng dặn dò Châu Dương: “Huynh trưởng đệ không được khỏe lắm, đệ sang chỗ Đức thúc và Vận ma ma bên cạnh ở một ngày, mai ta sẽ gọi đệ qua.”
Châu Dương bị thần sắc Châu Đàn vừa rồi dọa sợ, không nghi ngờ gì, quan tâm vài câu rồi rời đi.
Hắn vừa đi, Khúc Du đã quay lại, nói với Châu Đàn: “Phu quân, chàng nghe thiếp nói… Đây không phải là thế giới cũ của chàng.”
Châu Đàn thất thần nói: “Ta biết, ta biết…”
“Chàng không biết. Đây không phải địa phủ, chàng cũng không chết.” Khúc Du nói gấp gáp: “… Chàng có nhớ lại những chuyện trước kia không?”
“Chuyện trước kia?” Châu Đàn lặp lại, mặt tái nhợt: “Ta dường như… ta dường như đã chết trong chiếu ngục, rồi tỉnh lại trong khuê phòng của một nữ tử. Hơn nữa ta còn, ta còn không nhận ra nàng. Những chuyện này…”
Tay chàng run rẩy dữ dội: “Những chuyện này… là thật sao?”
Khúc Du tiến lên ôm lấy chàng, cùng chàng vào nhà: “Phải, nhưng… đó đều là ký ức kiếp trước của chàng, cũng giống như việc chàng… tự vẫn trong viện này vậy, đều đã qua rồi. Hiện tại, chàng đã đến thế giới mới.”
Châu Đàn ôm chặt lấy nàng, cuộn mình trên chiếc trường kỷ trước cửa sổ. Chàng không dám thắp đèn, sợ ánh đèn sáng lên mọi thứ sẽ biến mất: “Kiếp trước? Vậy, vậy kiếp này… nàng không chết sao?”
Khúc Du đau lòng v**t v* má chàng: “Không, chàng cũng không chết. Chúng ta cùng sống ở đây, sống rất vui vẻ.”
Châu Đàn tiếp tục hỏi: “A Dương… cũng không chết sao? Còn Nguyệt Sơ, Thập Tam…”
Hóa ra trong khoảng thời gian mà nàng không nhìn thấy, tất cả những người mà Châu Đàn quan tâm… đều đã không còn nữa sao?
Khúc Du nghẹn thở, trả lời rất nhanh: “Không, họ đều không chết.”
Châu Đàn thở phào nhẹ nhõm một hơi dài, như thể vừa sống sót sau tai ương, đến giờ vẫn không dám tin vào niềm vui bất ngờ này: “Tốt quá, tốt quá, mọi người đều…”
Nàng khó khăn lắm mới trấn an được cảm xúc của Châu Đàn, rồi qua những lời chàng lẩm bẩm, nàng mới biết được kiếp ấy đã xảy ra nhiều chuyện đến vậy.
Chàng không hề tuyệt giao với Nhậm gia. Thế nên khi chàng dây dưa với Phó Khánh Niên, Nhậm Bình Sinh đột ngột chết vì bị người lạ ám sát. Chàng nhận ra nguy hiểm, lập tức đưa Nhậm Thời Minh và mẫu thân hắn ra khỏi Biện Đô.
Nhưng Nhậm Thời Minh vì báo thù cho phụ thân, cũng vì không muốn liên lụy chàng đã liều lĩnh đi ám sát Phó Khánh Niên. Tuy làm bị thương cánh tay hắn, nhưng bản thân cũng rơi vào tay Phó Khánh Niên.
Phó Khánh Niên vốn muốn giữ hắn làm con tin, nhưng chính hắn cũng không ngờ mình sẽ đột ngột bại dưới tay Châu Đàn. Trước lúc chết, ông ta cười ha hả, nói với Châu Đàn rằng dù hắn có chết, ông ta cũng không để chàng được yên.
Châu Đàn không hiểu được hàm ý trong lời nói của hắn.
Thế nên, sau khi Khúc Du lâm bệnh qua đời trên đường tới Nhược Châu, chàng lại nhận được thư từ Tô Triều Từ ở Biện Đô.
Tô Triều Từ gần như không đành lòng đặt bút.
Nhậm Thời Minh chết cực kỳ thảm khốc, lúc còn sống hẳn đã chịu đựng sự hành hạ tàn bạo không chút nhân đạo. Khi Tô Triều Từ tìm thấy hắn, hắn vẫn còn thoi thóp một hơi thở – Phó Khánh Niên không cho phép bất kỳ ai chết. Dù ông ta đã thất bại, nhưng thuộc hạ của ông ta không biết, cứ thế giam hắn trong địa lao suốt hơn ba tháng trời.
Châu Đàn cứ đinh ninh hắn đang ở Kim Lăng, khi rời Biện Đô còn gửi thư riêng cho hắn.
Lúc hấp hối, Nhậm Thời Minh nắm chặt tay Tô Triều Từ cầu xin hắn.
“Tiểu Tô đại nhân… xin đừng để huynh trưởng của ta… biết chuyện này… Huynh ấy quá quan tâm đến những người bên cạnh, e rằng… e rằng sẽ không chịu đựng nổi.”
Nhưng Tô Triều Từ suy đi tính lại, vẫn thấy không thể giấu Châu Đàn.
Còn Châu Dương thì chết dưới một âm mưu ám sát của Bách Ảnh. Tuy Châu Đàn và Tô Triều Từ đã sớm nghi ngờ trong cung vẫn còn người mang dị tâm, nhưng cả hai đều không ngờ người đó lại là Bách Ảnh.
Bách Ảnh không thể tiếp cận gần Tống Thế Huyên, hắn nhờ Bạch Sa Đinh sắp xếp cho mình một chức vụ trong Thái Y Viện, nhưng làm cách nào cũng không thể tiếp cận nguồn đồ ăn thức uống hàng ngày của Tống Thế Huyên. Thế là hắn tìm đường khác, nhân lúc tiểu hoàng đế đang tế tổ ở Xương Lăng mà ra tay.
Châu Dương đã đỡ một nhát dao chí mạng cho Tống Thế Huyên.
Cuối cùng, chính Bạch Sa Đinh đã lấy sinh mệnh của mình ra uy h**p, buộc Bách Ảnh thả tiểu hoàng đế. Cả hai cùng chết, đồng quy vu tận tại địa cung Xương Lăng.
Khúc Du không đành lòng nghe tiếp.
Nàng quá hiểu Châu Đàn. Ngay cả Cốc Hương Huỷ và Yên Vô Bằng chỉ là những người bèo nước gặp nhau, chàng còn tự trách đến mức đó. Nếu đổi thành người thân của chàng…
Trong lòng Châu Đàn đã nghĩ gì sau khi những người này chết đi?
Khúc Du ôm lấy mặt đối phương, chủ động trao chàng một nụ hôn. Châu Đàn ôm chặt lấy nàng, đè nàng xuống chiếc trường kỷ sa mạn rủ loạn xạ.
Chàng hiếm khi có khoảnh khắc cảm xúc hoàn toàn mất kiểm soát như thế này.
Chỉ còn lại d*c v*ng trào dâng mãnh liệt, sống động, rõ ràng và không lay chuyển, ấy là điều chàng thực sự sở hữu.
Khúc Du ôm lấy bờ vai đẫm mồ hôi của chàng, cắn mạnh một cái.
Không thể cùng nhau sống, vậy thì hãy cùng chết đi.
Giữa hơi máu lan tỏa, nàng nghe Châu Đàn run rẩy hỏi: “Ngày mai ta còn có thể gặp lại nàng không?”
Nàng hôn lên vết tích mới do mình cắn trên người chàng, trịnh trọng hứa hẹn: “Có thể, dĩ nhiên là có thể.”
08. Rơi vào cõi trần
— Nhị nương, hôm nay là… ngày mười mấy tháng hai?
— Mười hai tháng hai. Hôm nay chính là Tiết Hoa Triêu, hôm qua phu nhân còn nói, ăn cơm xong sẽ đi hái vài cành hoa về mà.
Khúc Du chìm đắm trong hồi ức, mười hai tháng hai, Tiết Hoa Triêu, đây dường như là ngày nàng và Châu Đàn gặp nhau lần đầu.
Nàng bị mắc kẹt trong quỹ đạo đã định. Khó khăn lắm mới ráng được đến lúc mặt trời lặn. Chẳng ngờ lần này, nàng lại gặp Châu Đàn đang vội vã chạy đến ngay trên đường về nhà.
Hai người đối diện nhau ngoài tường viện, tóc chàng đã ướt đẫm vì mồ hôi lạnh túa ra.
“Nàng—”
“A Liên—”
“Ta mơ thấy nàng nhảy từ nơi rất cao, rất cao xuống. Ta gọi thế nào, nàng cũng không trả lời.”
Chàng ôm nàng, ngồi trước đình Thiên Ảnh, theo lời nàng mong mà hồi tưởng lại những năm tháng đã qua.
Khúc Du lắng nghe chăm chú, thỉnh thoảng lại bình luận.
“Lúc chàng rời thành, kỳ thực cũng mong Tử Khiêm đến tiễn chàng, đúng không… Chàng ấy à, miệng nói thất vọng, nhưng trong lòng luôn có hy vọng. Giống như sau này, hắn vừa đến biệt viện Hạnh Hoa, chàng liền lập tức tha thứ cho hắn.”
Châu Đàn rầu rĩ hỏi: “Ta có mềm lòng đến thế sao?”
Khúc Du nhướng mày: “Chứ còn gì nữa?”
Châu Đàn siết chặt vòng tay hơn: “Vậy sao nàng không chịu mềm lòng… Ngày xưa trên tường thành, ta trơ mắt nhìn nàng rơi xuống trước mặt ta. Cảm giác bất lực đó, lẽ ra nàng phải hiểu rõ hơn ta mới phải.”
“Lúc đó thiếp… chỉ nhớ lại chuyện ngày xưa.” Khúc Du thu lại nụ cười, nhàn nhạt nói: “Tuy đã nhìn thấy tương lai, nhưng thiếp… kỳ thực vẫn là người quỳ trong hành lang ngưỡng vọng chàng, đến chết cũng không dám nói thêm một lời. Thiếp cũng… sẽ sợ hãi. Thiếp sợ dù mình cố gắng rồi vẫn không cứu được chàng, sợ kỳ vọng tan vỡ, sợ gian nan hiểm trở, sợ phong ba gian ác, sợ hành lộ gian nan. Một mình thiếp, làm sao đối đầu với lịch sử và thiên mệnh?”
Châu Đàn nhanh chóng đáp lời: “Sao phải đối đầu? Ta… chỉ đơn thuần mong nàng sống. Nàng không cần bận tâm vì ta mà tổn thương thanh danh, không cần vì ta mà hy sinh sinh mệnh. Nàng không cần làm gì cả, chỉ cần ở bên ta đã là… rất tốt, rất tốt rồi.”
Châu Đàn cùng nàng chìm vào giấc ngủ sâu.
Trước khi nhắm mắt, Khúc Du nghe Châu Đàn hỏi: “Chúng ta… thực sự có kiếp sau tốt đẹp sao? Nàng thật sự… không lừa ta?”
Nàng ôm chặt chàng hơn, cười “ừm” một tiếng.
“Tuyệt đối không lừa chàng. Chúng ta sẽ có một cuộc đời thật tốt đẹp. Những điều chàng mong ước đều không hề mất đi, ngủ thôi! Đợi sau giấc ngủ này, một bản thể trọn vẹn của chàng… sẽ có thể gặp được bản thể trọn vẹn của thiếp. Chúng ta sẽ hạnh phúc, viên mãn, yêu thương nhau trải qua kiếp này. Đèn sáng rực rỡ, con cháu đầy đàn, cho khi tóc bạc trắng vẫn yêu nhau như thuở còn thanh xuân.”
Chuyện cũ phai nhạt, rơi vào cõi trần.
Đợi chàng mở mắt ra lần nữa, đó sẽ là một thế giới hoàn toàn mới.