Chương 87

Năm Trọng Cảnh thứ sáu, năm mới vừa qua nhưng vẫn là giữa mùa đông, xuân vẫn còn trì hoãn chưa tới. Gió lạnh buốt thấu xương lùa qua hành lang dài hun hút, từ đầu đến cuối vọng lên từng tiếng “ù… ù…” như trẻ con khóc đêm.

Sắc trời trong hoàng thành u ám nặng nề, tuyết lớn cùng đêm thanh vắng cùng lúc kéo đến.

Tiểu cung nữ vấn tóc hai búi thấp se sẽ quỳ co ro một bên hành lang, không ngừng hà hơi, cố tạo ra chút hơi ấm mỏng manh cho mình, song nào có ích chi.

Tuyết năm nay dường như còn lớn hơn cả những năm trước.

Mái tóc chỉ buộc một dải dây đỏ của tiểu cung nữ đã phủ một lớp sương lạnh mỏng, đôi vai gầy guộc cũng đầy tuyết đọng.

Vết bạt tai nơi má bên cạnh dường như đã bị tuyết làm đông cứng, hoàn toàn không còn cảm nhận được đau đớn nữa. Cũng xem như là một chuyện tốt.

Hoàng thành sau khi mặt trời lặn vắng lặng không một tiếng người, con đường này thông tới chiếu ngục trống trải, ngày thường căn bản không một bóng ai qua lại.

Nàng đã quỳ ở đây chừng hai canh giờ, lúc trước còn nghe thấy tiếng người vọng tới cách mấy bức tường, nhưng giờ đây chỉ còn lại tiếng xẹt rất nhanh tan chảy của những bông tuyết rơi trên mặt chiếc vại đồng hứng nước mưa bên cạnh nàng.

Rồi trong bóng tối và cơn tuyết lớn này, nàng chợt nghe thấy tiếng xiềng xích va chạm.

Trong đêm đông tuyết bay đầy trời, một nam tử khoác chiếc hạc sưởng* trắng tinh khôi chậm rãi bước đến.

*Đây là chiếc áo choàng không tay được thêu hoa văn tiên hạc, biểu tượng của đạo sĩ, tiên nhân trong văn hóa Trung Hoa. Ban đầu chất liệu làm từ lông chim, về sau do kỹ thuật thêu dệt phát triển mà chuyển sang dùng vải thêu. Từ thời Tống trở đi, các loại áo khoác rộng bằng vải lanh hoặc vải bố hoặc một số từ lông thú cũng có thể được gọi là hạc sưởng.

Chàng đi rất chậm, nàng xoay cái cổ gần như đã bị đông cứng. Vừa nhìn đã nhận ra chàng hẳn đã bị thương rất nặng, thậm chí vẫn còn đang chảy máu, có một vệt đỏ mờ nhạt sót lại trên nền tuyết khi chàng đi qua, chỉ trong khoảnh khắc đã ngấm sâu xuống lớp tuyết.

Nàng chăm chú nhìn nam tử đột ngột xuất hiện dưới màn tuyết như một kỳ tích thần thánh, hoàn toàn lờ đi hai bóng đen đằng sau chàng.

Sau đó, vị thần minh ấy dừng lại trước mặt nàng.

Nàng trông thấy một đôi mắt màu hổ phách nhạt màu.

Chàng dường như cũng lạnh thấu xương, chậm rãi mở lời, giọng run run hỏi: “Vì sao… lại quỳ nơi đây?”

Nhưng chàng khoác chiếc hạc sưởng dày dặn thế kia, làm sao lại lạnh được?

Nàng đây chỉ mặc độc chiếc váy mỏng manh, lẽ ra nàng mới phải là người lạnh hơn chứ!

Tiểu cung nữ mấp máy môi, nhưng miệng nàng như bị đông cứng, rất lâu sau mới mở ra được, song cũng chỉ phát ra được một hai âm điệu mơ hồ. Nàng nghĩ có lẽ là do cổ họng đã bị đông cứng đến câm lặng rồi.

Hai thị vệ đi theo chàng có chút sốt ruột, duy trì vẻ cung kính không lạnh không nhạt mà thúc giục: “Đại nhân, nên đi rồi.”

Nàng còn chưa kịp phản ứng, đối phương đã cởi chiếc hạc sưởng mà nàng vô cùng ngưỡng mộ, khoác lên người nàng.

Nàng ngây người nhìn khuôn mặt gần ngay trước mắt, phát hiện chàng thật đẹp. Một khuôn mặt lạnh nhạt và cao quý, là kiểu người mà ngày thường nàng căn bản không dám nhìn nhiều.

Nếu không phải người này đang run rẩy tay chân giúp nàng buộc nút áo choàng, nàng tuyệt đối sẽ không tin nam tử nhìn như thần minh này lại có bất cứ giao thiệp nào với nàng.

Ngón tay lạnh lẽo như ngọc cốt lướt qua má nàng, nam tử mất đi lớp áo ngoài lập tức run lên một cái, nhưng chàng vẫn lảo đảo đứng dậy, để lại một câu khẽ khàng: “Quấn chặt vào.”

Cung nữ nắm chặt áo choàng, ngước mắt chỉ thấy được bóng lưng chàng, lớp trung y bên trong áo choàng của chàng loang lổ vết máu, trông mỏng manh rách rưới, chiếc vòng sắt đã gỉ sét nơi cổ chàng rũ xuống một sợi xiềng xích, trơ trọi kéo lê trên nền tuyết.

Cuối cùng nàng cũng thốt nên lời: “Đại nhân…”

Đại nhân, ta nên đi đâu để trả lại chiếc áo choàng mùa đông này?

Nhưng nam tử không hề ngoảnh đầu lại.

Chiếc hạc sưởng trên người nàng chậm rãi tỏa ra chút hơi ấm còn sót lại của chàng, lẫn vào đó là một thoáng mùi tĩnh thuỷ hương. Nàng khẽ khàng hít hà, cảm thấy ngay cả mùi máu tươi cũng mang theo một hai phần bi tráng khó nói nên lời.

Không lâu sau khi chàng rời đi, tuyết đã ngừng rơi.

Sau khi trời vừa sáng rõ, cung nữ đếm đủ canh giờ, vịn vào bức tường son lảo đảo đứng dậy. Đầu gối nàng gần như đông cứng, đến cả bước đi cũng khó khăn, nếu không nhờ có chiếc áo choàng mùa đông dày dặn kia, chắc chắn đã bị cái lạnh thấu xương của đêm đông sâu thẳm hôm qua làm cho chết cóng rồi.

Nàng khó nhọc lê vài bước, lại ngã nhào trên nền tuyết, chưa kịp đứng lên thì đã nghe thấy tiếng bước chân vội vã từ cuối hẻm vọng tới, trước mắt xuất hiện vạt áo màu vàng tươi. Nàng nghe thấy một giọng nói trẻ tuổi, hơi có vẻ hoảng loạn: “Kẻ nào… đã ban cho ngươi chiếc hạc sưởng này?”

Ngẩng đầu lên, trâm ngọc trên miện quan thiên tử va chạm lộn xộn, khuôn mặt dưới ánh dương phản chiếu vẻ uy nghiêm trầm mặc.

Một thị vệ theo hầu bên cạnh dường như là một trong hai người đã hộ tống vị đại nhân kia vào chiếu ngục đêm qua. Hắn tiến lên một bước, cung kính tâu lại: “Bệ hạ, là Tể phụ… là Châu đạu nhân hôm qua đi ngang qua thấy cung nữ đáng thương, liền tự cởi áo tặng cho.”

Châu đại nhân và Tể phụ đặt cạnh nhau, dù nàng có chậm hiểu đến mấy cũng đã biết nam tử đêm qua là ai.

Chỉ là không ngờ, vị Tể phụ Châu Đàn, người thanh danh uy h**p khắp triều đình, bị mắng là gian nịnh thần suốt năm năm lại có dáng vẻ như thế ấy.

Chủ tử của nàng là Đình Phi hôm qua vừa tới chiếu ngục gặp vị Châu đại nhân này về, lòng đầy giận dữ không nguôi. Vừa khéo Đình Phi bắt gặp nàng sơ suất trong việc hầu hạ một chút, liền tức khắc phạt nàng quỳ sáu canh giờ bên hành lang.

Thiên tử còn muốn hỏi thêm thì cuối hành lang đã có mấy thị vệ khiêng tới một thi thể.

Thi thể được che mặt bằng một tấm vải trắng đơn giản, trên vải dính chút vết máu. Nàng trông thấy dưới tấm vải trắng rủ xuống một bàn tay thon dài, đẹp đẽ.

Một nam tử áo tía đứng sau thiên tử đột nhiên loạng choạng một bước, sau đó không chút kiêng dè vượt qua thiên tử, đưa tay vén tấm vải trắng lên. Nhìn thấy người, hắn hoàn toàn sững sờ, theo bản năng lùi lại phía sau, bị vấp vào chiếc vại đồng hứng nước mưa chạm khắc hoa sen kia rồi ngã lăn ra trước mặt nàng.

Nàng đưa tay ra đỡ, chạm vào chuỗi hạt phật ngũ sắc nơi cổ tay hắn.

“Tên lừa đảo!” Nàng nghe thấy giọng đối phương run rẩy. Hắn thần hồn thất tán, hoảng loạn vô cùng, đến cả lễ nghi cũng chẳng còn màng tới: “Sao có thể… sao lại thành ra thế này?”

Hắn run rẩy bò bằng đầu gối hai bước, quỳ rạp trước mặt tiểu hoàng đế, thảm thiết gọi: “Bệ hạ… Tử Khiêm!”

Lông mi của Châu Đàn đã kết một lớp băng sương lấp lánh. Ánh mắt thiên tử ngẩn ngơ rời khỏi thi thể, chuyển sang chiếc hạc sưởng trên người nàng, khẽ tự lẩm bẩm: “… Hắn không nguyện ý nhận thứ của trẫm, nếu giữ lại chiếc áo choàng này, hắn đã không chết.”

Hắn đột ngột ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào nàng: “Ngươi khóc cái gì?”

Cung nữ ngơ ngác đưa mu bàn tay lên lau, lúc này mới hay mình đã khóc. Nàng vừa được thái giám bên cạnh hoàng đế đưa cho một chiếc lò sưởi tay, ôm một lát, cuối cùng đã có thể nói thành lời: “Châu đại nhân tặng áo… là thấy nô tỳ đáng thương. Nô tỳ chẳng qua là kẻ hèn mọn, hèn mọn nhất trong hoàng thành này. Đại nhân lòng dạ từ bi, nô tỳ… vô cùng cảm kích.”

Nam tử áo tía ban nãy cũng nói: “Hắn chẳng qua là thấy tiểu cô nương này đáng thương thôi chứ đâu phải không muốn thứ của bệ hạ… Bệ hạ ơi.”

Thiên tử bướng bỉnh cắn chặt môi, không nói lời nào.

Nam tử áo tía thấy nàng muốn cởi chiếc hạc sưởng trên người ra, liền đưa tay ngăn lại, hỏi: “Ngươi tên là gì… vì cớ gì lại quỳ ở chốn này?”

Nàng khẽ đáp: “Nô tỳ tên là A Liên.”

Gió xuân từ thuở cũ vẫn thương xót ta, huống chi Hằng Nga lại là cố nhân.

Thiên tử hoàn hồn, ngập ngừng nói: “Trẫm nhớ… ngươi là cung nữ bên cạnh Đình Phi.”

Dù bị cái lạnh băng tuyết hành hạ suốt đêm, hai má đã tím tái cũng không che nổi dung nhan xinh đẹp của nàng. Trước đây hắn đã từng gặp cung nữ này bên cạnh Đình Phi, còn lén lút nhìn thêm vài lần.

Có lẽ nàng bị Đình Phi phạt quỳ cũng là vì nguyên do này.

A Liên không dám đáp lời, nếu lỡ nói ra điều gì truyền đến tai nương nương, nàng về lại sẽ bị phạt thêm.

May thay thiên tử cũng không hỏi nhiều, chỉ mệt mỏi khoát tay, căn dặn: “Sau này không cần theo hầu Đình Phi nữa, ngươi hãy đến Nhiên Chúc Lâu mà hầu hạ đi.”

Nhiên Chúc Lâu là cung điện do tiên đế xây dựng để dùng vào việc tế tự, công việc thường ngày ở đó chỉ là quét tước, thắp nến, đốt hương và trông coi, là một công việc nhàn hạ hiếm có trong cung.

A Liên run rẩy tạ ơn, thiên tử đích thân tiến lên đỡ nam tử áo tía dậy, rồi lại phủ lại tấm vải trắng lên thi thể, thất hồn lạc phách dẫn người rời đi.

Trước khi đi, hắn còn không quên dặn người dìu nàng về nơi ở, và mời thái y tới khám.

A Liên quả thực có chút không hiểu.

Thiên tử và vị đại nhân áo tía rõ ràng rất để tâm đến vị Châu đại nhân bạch y kia, vậy cớ sao đêm qua lạnh lẽo như vậy mà lại không một ai đến xem chàng?

Giá như đến sớm hơn một chút, có lẽ chàng đã không chết rồi.

Mặc dù thiên tử đã làm chủ điều chuyển nàng đến Nhiên Chúc Lâu, nhưng không hiểu vì sao chuyện này vẫn bị Đình Phi biết được. Sau đêm quỳ ấy nàng bị sốt cao mấy ngày, Đình Phi liền lấy cớ bệnh của nàng sẽ lây cho người khác, sai người đưa nàng cùng vài cung nhân bị dịch bệnh trong lãnh cung ra khỏi cung.

A Liên cùng đám cung nhân đó được đưa đến chùa Tụ Thanh trên núi Đình Sơn. Đối với nàng, đây có lẽ còn là một chuyện tốt.

Vị đại sư ở chùa Tụ Thanh đã dành riêng một viện cho nhóm cung nhân này, mời người đến chăm sóc. Nàng vốn không mắc dịch bệnh, không bao lâu sau đã lành hẳn liền giúp đỡ mọi người chăm sóc người bệnh, cùng các nữ tu trong chùa rửa rau nấu cơm. Ngày tháng trôi qua lại an bình hơn nhiều so với khi còn ở trong cung.

Chỉ là A Liên thấm thía tai họa từ dung mạo nên từ trước đến nay chưa từng tháo mạng che mặt, ngay cả các nữ tu thân thiết với nàng cũng tưởng nàng bị bệnh làm hỏng cả khuôn mặt.

Một ngày nọ, người trong hoàng thất đến thắp hương lễ phật, vô tình đánh rơi một tập thơ sau bồ đoàn.

Các nữ tu nhặt về xem, nhưng lại không hiểu. Khi tập thơ truyền đến tay A Liên, lòng nàng bỗng chấn động mạnh mẽ.

Xuân Đàn Tập.

Nữ tu thân thiết với nàng lấy làm lạ hỏi: “A Liên, ngươi cũng biết chữ ư?”

A Liên ngây người gật đầu: “Nhiều năm về trước, phụ thân ta cũng từng làm quan trong triều, chỉ là vì bị liên lụy nên bị đày đi lưu đày xa xôi, giờ cũng chẳng rõ còn sống hay đã chết. Mẫu thân sau khi phụ thân xảy ra chuyện chẳng bao lâu thì cũng lâm bệnh mà qua đời. Ta bị sung làm quan tỳ, rồi vào cung hầu hạ.”

Nữ tu hiếu kỳ: “À, vậy trước kia tên ngươi là gì?”

A Liên nghĩ ngợi một lát: “Hình như là họ Khúc, còn tên gọi là gì… thì ta không nhớ nữa.”

Nàng ngồi dưới ánh trăng, đọc từng câu từng chữ trong tập thơ của Châu Đàn, đọc đi đọc lại, khắc ghi nhuần nhuyễn trong lòng.

Nàng đọc: 

“Tấc ngọc thân xanh chí chẳng mòn,
Một đường xuân sắc chẳng đua chen.

Sương tuyết đè cành, trần chẳng vấy,
Phong ba đối mặt thù mà lay.”

Lại đọc: 

“Nhân gian trời xanh mưa nhuần thấm,
Triều dâng xanh biếc rải đan xen.”

Đọc: 

“Tuyết trắng xuân về khi sớm sủa, 
Đưa người trở lại thuở thiếu niên.”

Cũng đọc: 

“Kiếp tàn hèn mọn, đếm ngày trôi.
Nuốt tiếng già đau khóc lối cùng”

“Phì phì phì, câu này không hay.”

Nàng dùng bút lông chấm mực đậm, tô xóa cả bài thơ đi.

Tháng ba trời trở lạnh bất thường, số người đến chùa Tụ Thanh thắp hương lễ phật ít hơn nhiều so với tháng giêng. Trong trận tuyết xuân cuối cùng của năm Trọng Cảnh thứ sáu, một cành của cây cổ thụ phía trước sân, vốn buộc rất nhiều dải lụa đỏ đã bị đè gãy.

Những dải lụa đỏ trên cây hòe già vốn là do những người đến lễ phật cầu nguyện mà buộc vào, việc cây gãy chiết là điềm không lành. A Liên biết chữ nên giúp phương trượng đại sư gỡ những dải lụa đỏ khỏi cành cây gãy, tìm chỗ khác quấn lại.

Nàng vô cùng kiên nhẫn cẩn thận gỡ từng dải nguyện ước của người khác, quấn cẩn thật đặt vào một chiếc hộp gỗ đặt bên cạnh.

Cành cây trải qua năm tháng, dải lụa được quấn hết lớp này đến lớp khác, mấy lớp dưới cùng thậm chí đã bắt đầu phai màu. Nàng gỡ dải lụa cuối cùng có mép đã bạc màu, nhìn thêm một lần rồi sững người.

Nét chữ của Châu Đàn rất đẹp, là nét chữ sấu kim thể sắc bén, nét móc như vàng, nét gạch như ngọc, cốt cách thanh lạnh.

“Kính dâng vong mẫu, con sắp thành hôn, không tránh khỏi hoảng hốt, mong người phù hộ cho thê tử bình an thuận hoà… Đường phía trước còn dài, biển trời cuộn sóng, nguyện giữ bản tâm. — Đàn tái bút.”

Nàng giấu dải lụa đó đi, kẹp vào giữa tập thơ.

Vào ngày nắng ráo, nàng lại quấn dải lụa đỏ đó trở lại cây cổ thụ trăm năm, ánh mặt trời chiếu lên chiếc mạng che mặt màu trắng, cảm thấy có hơi nóng.

Nàng chậm rãi làm việc, hồi tưởng lại rất nhiều chuyện cũ.

Năm Vĩnh Ninh thứ mười bốn, Châu Đàn mãn nhiệm trở về kinh, vào làm ở Điển Hình Tự.

Đức Đế có ý muốn ban cho chàng một mối hôn sự môn đăng hộ đối, tốt nhất là nhà không quá hiển quý, phụ thân không hiển hách, nếu là dòng dõi thanh liêm trung lập thì càng hay.

Cố Chi Ngôn nghe được tin con gái lớn nhà Sử quan họ Khúc cùng trưởng nữ của Cao Tắc đối thơ một trăm lẻ tám câu trong yến tiệc của Cao Tắc, sau tiệc liền gửi thiệp bái phỏng đến nhà Sử quan.

Ngày thành hôn được định vào mùa hạ năm sau.

Châu Đàn đọc được bài thơ “Đường tiền lưu thủy hiệp hoa khứ, thiên địa nhân gian lưỡng bất tri” (Nước trước sân mang hoa đi, trời đất nhân gian đôi đường chẳng hay) của nàng, Tết đến gửi tặng hai bầu rượu hoa hạnh tự ủ.

Cao Vân Nguyệt lén đi xem người thay nàng, trở về mặt đỏ bừng, bảo với nàng đối phương là người cực kỳ, cực kỳ tốt. Nàng ấy vốn là người mắt cao hơn đầu, khó lòng mà khen ngợi ai.

Tất cả các cô nương ở Biện Đô đều ngưỡng mộ nàng có được mối hôn sự tốt như vậy, đối phương là Trạng nguyên tam nguyên cập đệ, tuổi trẻ tài cao, phong lưu phóng khoáng, ngay cả con gái Tể phụ còn chưa gả được, lại tới phiên nàng gặp may mắn.

Nàng bĩu môi, làm mặt quỷ với Cao Vân Nguyệt.

“Ta tốt như vậy, sao không nói là chàng ta gặp may mắn?”

Cao Vân Nguyệt cười rộ lên cùng nàng: “Cô tự nhiên là tốt, cưới được cô là phúc khí của ngài ấy.”

Nhưng nàng đã không được gặp Châu Đàn, cũng không chờ được hôn sự đó.

Năm Vĩnh Ninh thứ mười lăm, án Nhiên Chúc nổ ra, thân thích của Cố Chi Ngôn đều bị bắt vào ngục. Khúc Thừa bị liên lụy, nhốt vào Hình bộ, bị phán lưu đày ba ngàn dặm, con trai theo đi cùng, thê tử và con gái bị sung làm cung nô tỳ.

Mẫu thân nàng vì quá lo lắng và sinh bệnh tật đã qua đời trong phủ khi hoa hạnh còn chưa nở.

Cao Vân Nguyệt tìm hết cách mới tạo ra chuyện nàng và muội muội chết đột ngột để các nàng không bị sung vào Giáo Phường Ti mà được vào cung làm cung nữ cùng với con gái các gia đình quan lại phạm tội bình thường khác.

Châu Đàn may mắn sống sót qua án Nhiên Chúc, vừa ra khỏi ngục liền mang đầy mình thương tích đến gõ cửa phủ nàng. Nàng trốn sau cánh cửa, khẽ nói với chàng: “Cô nương đã chết rồi, đại nhân không cần đến nữa.”

Nàng biết chàng hiện tại còn thân mình khó bảo toàn, hà tất phải quản chuyện nhà nàng nữa, rước thêm phiền phức.

Dáng vẻ chẳng còn chút thể diện nào như thế này, nàng quả thực cũng không muốn để chàng nhìn thấy.

Cao Vân Nguyệt khi đó giúp nàng che giấu thân phận, làm rất kín kẽ, mặc cho Châu Đàn điều tra rất lâu, muốn chiếu cố chút đỉnh, cuối cùng cũng không phát hiện ra điều gì.

Vào cung chưa được bao lâu, nàng đã vì không biết hầu hạ mà đắc tội với quản sự ma ma, bị điều đến hoa phòng làm việc khổ sai. Các muội muội một người vào cung của Phó quý phi, không lâu sau liền bặt vô âm tín, người còn lại cũng dần bặt vô âm tín.

Ôm chậu cây hạnh bonsai đi ngang qua hoàng đình, nàng nghe nói tiểu Châu đại nhân trẻ tuổi đã chọc giận bệ hạ, đang bị đánh đình trượng.

Thế là nàng nhờ một tiểu thái giám mang thuốc trị thương nàng vẫn dùng, nhét thêm bạc, nhờ hắn chuyển thuốc qua.

Tiểu thái giám chê nàng nghèo túng, bề ngoài nhận lời, nhưng dùng bạc đổi một đĩa đậu phộng nhâm rượu, thuốc trị thương bị vứt đi đâu không rõ.

Khi mùa xuân đến, Châu Đàn bị giáng chức đến Nhược Châu.

Lại qua rất lâu, trong hoàng cung xảy ra biến động long trời lở đất, chàng g**t ch*t phế Thái tử bạo tàn, phong quang trở về triều, phò tá thiên tử thiếu niên lên ngôi.

Di chiếu không rõ ràng, chàng ta còn quá trẻ, lại thêm thanh danh trước đây không đè nổi miệng lưỡi thiên hạ. Nàng đi theo chủ tử, vẫn nghe thấy khắp nơi bàn tán xôn xao.

Nhưng nàng chẳng hề phản ứng, cứ như thể chưa từng quen biết đối phương.

Nói cho cùng, quả thực là không hề quen biết.

Vào cung nhiều năm như vậy, cuối cùng đã mài mòn hết chút kiêu ngạo còn sót lại trên người nàng.

Phụ thân sống chết không rõ, các muội muội đã sớm bị bức tường son lạnh lẽo trong cung nuốt chửng, cả nhà Cao Vân Nguyệt đều chết trong tai họa do phế Thái tử gây ra. Trên đời này, còn nhớ đến nàng e rằng chắc chỉ còn lác đác vài người.

Ngay cả chính nàng cũng đã quên đi cái tên cũ của mình, dù có nghe tin vị Tể phụ trẻ tuổi cả đời không cưới thê, mỗi năm đều bẻ một cành hoa hạnh gửi đến Lũng Thượng cũng chẳng còn chút gợn sóng nào.

Trong đêm xuân, nàng ngước nhìn mặt trăng, thất thần trong chốc lát thì có người bực tức gọi “A Liên”, nàng cúi thấp đầu, vội vã chạy tới.

“Nô tỳ có mặt.”

Trăng vẫn là vầng trăng xưa, gió xuân cũng là gió xuân thuở trước. Thổi vào mặt, vẫn như hôm nào.

Gió xuân từ thuở cũ vẫn thương xót ta, huống chi Hằng Nga lại là cố nhân.

Nàng rõ ràng đã quên sạch tiền trần vãng sự, cớ sao lại vào lúc này… ngồi trên cây cổ thụ với những dải lụa đỏ bay phấp phới, trầm ngâm nhớ lại tên mình?

Gia… Ý.

Mỹ hảo chi ý… (Ý nguyện tốt đẹp) rốt cuộc vẫn không thể thành hiện thực, nếu có kiếp sau, nàng không muốn mang cái tên này nữa.

A Liên nắm chặt dải nguyện ước đã cũ kỹ trong tay, bật khóc nức nở dưới trời nắng ráo.

Đêm hôm đó, nàng lẻn ra khỏi chỗ ở, mang theo tập thơ, định trèo tường trốn thoát.

Trước khi đi ngang qua đại điện vẫn chưa đóng cửa, Phật Tổ kim thân từ bi rủ mắt nhìn xuống, pháp tướng uy nghiêm.

Chẳng hiểu vì sao xui khiến, từ khi vào chùa Tụ Thanh, đây là lần đầu tiên nàng thành kính quỳ trên bồ đoàn, cúi đầu thật sâu, rồi run rẩy khấn nguyện.

“Nếu Phật Tổ có thể nghe thấu lời cầu nguyện của tín nữ…”

Điều nàng muốn khấn nguyện có rất nhiều.

Mong gia môn không bại vong, mong người thân bằng hữu không ly biệt, mong… mong có thể cả đời giữ được cái cốt cách kiêu ngạo ngày xưa, không còn phải khom lưng cúi gối làm nô tỳ.

Nghĩ đi nghĩ lại hồi lâu, cuối cùng thốt ra chỉ còn lại một câu.

“Xin cho tín nữ đời đời kiếp kiếp được bầu bạn bên cạnh đại nhân để đền đáp ân nghĩa chiếc áo choàng của cố nhân ấy.”

Thốt ra rồi nàng thấy có chút tham lam, lời nguyện ước này nghe không giống như cầu phúc cho Châu Đàn mà lại giống như cầu phúc cho chính mình vậy.

Nàng trốn khỏi chùa Tụ Thanh trong đêm, khi trèo tường ngã xuống, dường như còn nghe thấy một tiếng thở dài đầy từ bi của phương trượng đại sư.

Chắc là ảo giác thôi, nếu đại sư có ở đó, ắt hẳn sẽ ngăn cản nàng, dù sao nàng hiện tại vẫn là người của hoàng gia.

Đêm xuân mưa phùn lất phất, nàng dọc theo núi Đình Sơn đi thật lâu, mãi mới đến được một ngọn đồi nhỏ ở ngoại ô kinh thành.

Châu Đàn thanh danh bại hoại, lời đồn rằng chàng bị hoàng đế vứt xác ở bãi tha ma, nhưng nàng tận mắt chứng kiến tình cảnh hôm đó vẫn cảm thấy không đến nỗi thế. Sau này lại lén nghe thiên tử khấn nguyện sau rèm, khó khăn lắm mới biết được nơi này.

Quả nhiên, trên ngọn đồi xếp đặt gọn gàng một số ngôi mộ đơn sơ, có những cái tên trên bia nàng biết, có những cái thì không.

Chắc hẳn đều là những bậc nhân vật đã từng sống một đời tự tại, hào sảng. Nếu nàng cũng có cơ hội được quen biết những người này, được sở hữu một cuộc đời như thế… thì tốt biết mấy.

Tuyết trắng năm nay về xuân còn sớm, liệu có thể dung thứ cho người trở lại thời thiếu niên không?

Bên cạnh tấm bia cũ Châu Đàn lập cho phụ mẫu, nàng thấy một ngôi mộ mới.

Điều bất ngờ là trên bia mộ không chỉ có mỗi mình tên Châu Đàn.

Tấm bia này có niên đại cũ kỹ, đề lạc khoản vào năm Vĩnh Ninh thứ mười lăm, tức là năm án Nhiên Chúc nổ ra. Châu Đàn sống sót từ chiếu ngục ra đã đích thân lên đây khắc cho mình một tấm bia mộ, lại còn là mộ hợp táng. Trên bia khắc họ của người thê tử chưa cưới của chàng, có đất để nương náu, chẳng đến nỗi cô khổ không nơi nương tựa.

Ngón tay nàng lướt qua bia mộ, không phân biệt được trên mặt là nước mưa xuân hay nước mắt.

Khi hoa hạnh lại nở rộ, Tô Triều Từ mang theo một bầu rượu lên núi, phát hiện mộ của Châu Đàn có dấu vết đất mới bị xới lên.

Hắn không nghĩ nhiều, nơi này kín đáo, đại để là do nước mưa cuốn trôi.

Trên cái cây trước mộ không biết là ai đã buộc một dải lụa đỏ, mép vải đã phai màu, hắn nhìn không rõ những nét chữ mờ nhạt trên đó, đành mặc cho nó bay lượn trong gió.

Sau này nó bị thứ gì đó cuốn đi mất, hắn không bao giờ nhìn thấy lại nữa.

Tình yêu trên đời, cũng chỉ như mưa tạnh trời xanh, vô cớ lầm lạc.

Nước cuốn hoa đi, trời đất đôi đường chẳng hay.

Bình Luận (0)
Comment