Ánh nắng dịu dàng rải xuống, Giang Vãn Nguyệt quỳ trong Phật đường.
Nàng ăn chay tắm gội, mỗi ngày đều ở đây thành kính cầu phúc.
Mặc dù Giang Vãn Nguyệt chưa bao giờ hỏi thăm thương thế của Tạ Bích, nhưng Thu Ly biết, cô nương đang làm vì ai.
Cô nương thành tâm lễ Phật, suy cho cùng cũng liên quan đến những lời đồn đại kia, nói trắng ra, vẫn là vì sợ mệnh cách của mình sẽ lỡ lầm đến tính mạng của Tạ Bích.
Giang Vãn Nguyệt từ từ nhắm mắt, thầm cầu nguyện trước Phật.
Nàng vẫn luôn nhớ khoảnh khắc quay đầu lại, nhìn thấy cảnh Tạ Bích trúng tên vào ngực rồi ngã xuống.
Nỗi sợ hãi kinh hoàng trong đáy lòng lập tức nhấn chìm nàng.
Nàng sững sờ nhìn đám đông vây quanh, bao bọc lấy Tạ Bích ở giữa.
Mọi người ồn ào tìm thái y, máu trên ngực hắn văng tung tóe dưới ánh nắng…
Nàng đứng ngoài đám đông, như thể tất cả mọi thứ chỉ là một giấc mơ không thể tỉnh lại.
Mấy ngày nay, trong đầu nàng cứ quanh quẩn những chuyện đã qua với Tạ Bích.
Cây trâm cài tóc bạch ngọc hắn cười mua cho nàng vào tết Nguyên Tiêu.
Bộ văn phòng tứ bảo hắn vụng về khắc cho nàng.
Còn có những lúc cùng nhau đọc sách sau khi thành hôn, hắn mượn cớ ngâm thơ để cố ý đọc tên nàng.
Hắn cũng sẽ ôm nàng từ phía sau, nói rằng muốn chữa bệnh ho cho nàng…
Hơi ấm từ lồng ngực hắn, khiến nàng nhớ lại lúc hắn lên thuyền cứu nàng, hắn ôm nàng vào lòng, nóng rực và vững chãi, cho đến tận hôm nay, hơi ấm đó vẫn chưa từng nguội lạnh…
Những ngày tháng sau hôn nhân, Giang Vãn Nguyệt cố ý không nhớ lại, dần dần, có rất nhiều khoảnh khắc, nàng tưởng mình đã quên rồi.
Nhưng hóa ra, những khoảnh khắc đó đều được chôn sâu trong ký ức, ẩn khuất mà rõ ràng.
Thậm chí, nàng còn nhớ lại cả khung cảnh trước khi thành hôn.
Lúc mới gặp, Tạ Bích cầm sáo ngang đứng trên thuyền, và cả trong đám đông, hắn cười viết chữ cho nàng.
Thật ra, hắn là một người rất tốt.
Dù đã bị hắn làm tổn thương, Giang Vãn Nguyệt vẫn nghĩ như vậy.
Lúc đó hắn cưới là thê tử, chứ không phải người yêu.
Về mặt trách nhiệm, hắn không có nhiều điều đáng trách, cũng không thể nói là phụ bạc.
Một người thanh tú lễ độ như hắn, sẽ đối xử với người mình yêu như thế nào đây?
Ý nghĩ tò mò này chợt nảy ra, Giang Vãn Nguyệt đột nhiên bừng tỉnh, nàng lo lắng cho vết thương của Tạ Bích, đêm đêm không thể ngủ yên, nhưng chưa bao giờ chủ động bước chân đến nơi ở của hắn.
Vết thương của Tạ Bích rất nặng, mũi tên kia vô cùng sắc bén, nhắm thẳng vào mạng sống của hắn.
Dù Tạ Bích đã sớm đề phòng, mặc nhuyễn giáp, vết thương ở ngực và bụng vẫn sâu một tấc.
May mà không trúng nội tạng, cũng chỉ là vết thương phần mềm.
Tạ Bích nhìn về phía trước, ánh mắt trầm tĩnh, dường như vẫn luôn chờ đợi một người.
Trúc Tây hiểu lòng lang quân, khẽ ho một tiếng giải thích: “Hôm nay Thu Ly lại đến hỏi thăm thương thế của lang quân rồi, chắc là cô nương cũng đang lo cho lang quân, chỉ là không tiện qua đây… Lang quân đừng để ý…”
Tạ Bích lắc đầu, im lặng một lúc lâu, bình tĩnh nói: “Giang cô nương có cuộc sống của riêng mình, ngươi đừng đi làm phiền nàng.”
Trúc Tây sững sờ, cuối cùng không nói thêm gì.
Lang quân rõ ràng rất muốn gặp phu nhân, nhưng lại chưa bao giờ cho phép mình đi làm phiền phu nhân, chỉ sợ gây phiền phức cho người.
Tạ Bích ho nhẹ vài tiếng, sắc mặt không đổi, đưa thư cho Trúc Tây nói: “Ngươi giúp ta làm một việc, đưa phong thư này đến phương Bắc.”
Tin tức Tạ Bích gặp chuyện đã sớm lan truyền khắp thiên hạ, người ở Thục Đô tự nhiên cũng đã sớm nghe tin.
Mấy tên thích khách này đến từ Thục Đô, lại mang theo mũi tên của ám vệ, không khỏi khiến người ta suy nghĩ miên man.
Tạ Bích là trọng thần của đất nước, lại là quan lớn cai quản một vùng ở Đàm Châu, chiến tranh Nam Bắc sắp nổ ra, theo lý, triều đình chắc chắn sẽ nghiêm tra vụ án này, phái người đến an ủi.
Nhưng điều kỳ lạ chính là, về việc này, trên dưới Thục Đô đều giữ mồm giữ miệng, không có một lời giải thích nào.
Đừng nói là quan viên, ngay cả dân chúng bình thường cũng có lời ra tiếng vào về cách làm của Thục Đô.
“Ngươi nghe nói chưa? Tạ đại nhân bị người Thục Đô ám sát, nhưng triều đình lại chậm chạp không cho người điều tra.”
“Đương nhiên là không điều tra rồi, nói không chừng chính là do triều đình phái tới…”
“Tạ đại nhân vì nước vì dân làm nhiều việc như vậy, sao triều đình có thể đối xử như thế…”
“Cho dù là quan viên một lòng báo quốc đến đâu, lòng cũng lạnh rồi…”
Và đúng lúc này, Đa Vinh nhận được thư của Tạ Bích.
Trong thư đều nói về những bí mật của triều đình, còn nói đến việc phòng thủ ở Đàm Châu, Vĩnh Châu và nhiều nơi khác đều yếu kém, các quan đứng đầu nhiều nơi đều mâu thuẫn nặng nề, thuộc các phe phái khác nhau trong triều, đấu đá lẫn nhau phức tạp, nếu đại quân Nam tiến, e rằng không có sức chống cự.
Đa Vinh đọc xong lá thư này, suy nghĩ rất lâu, sau đó triệu tập tâm phúc đến thương nghị.
Nhược Long bây giờ cũng được Đa Vinh trọng dụng, Nhược Long trầm tư một lúc lâu nói: “Nam triều không giống triều ta, đa số là văn nhân trị quốc, tranh giành quyền lợi, đảng phái nổi lên liên miên, vì vậy tin tức trong lá thư này, xem ra đáng tin.”
Các tướng lĩnh bên cạnh Bắc Nhung đều đi lên bằng quân công, bây giờ không có chiến trận, ai nấy đều ủ rũ, đứng ngồi không yên, đã sớm muốn vung quân Nam tiến. Bây giờ chờ được cơ hội này, ai cũng mong ngày mai phát động đại quân, thống nhất Nam Bắc.
“Bệ hạ bây giờ đã xưng đế, đám người Nam triều kia có gì đáng sợ, bị chúng ta đánh cho te tua phải chạy đến vùng đất man di, co đầu rụt cổ không dám ra. Thần thấy, vận số Nam triều đã tận.”
“Đúng vậy, chúng ta bên trong có thủy quân hùng mạnh vừa huấn luyện xong, bên ngoài có Tạ Bích và những người khác làm nội ứng ngoại hợp, thời cơ đã đến, xin Bệ hạ đừng bỏ lỡ!”
Mọi người ngươi một lời ta một câu nói vô cùng kích động.
Đa Vinh lại có vẻ mặt bình tĩnh, đợi mọi người nói xong, mới từ từ gọi ám vệ trung thành ra.
Đa Vinh bản tính đa nghi, Đàm Châu và kinh thành cách nhau ngàn dặm, chỉ dựa vào một lá thư, hắn nửa tin nửa ngờ.
Hắn ra lệnh cho ám vệ: “Ngươi hãy đích thân đến Đàm Châu, xem tình hình có thật sự như lời Tạ Bích nói không.”
Ám vệ đó đi suốt đêm không nghỉ, đến được Đàm Châu.
Chưa kịp gặp Tạ Bích, đã nghe được những lời đồn đại xôn xao trong dân gian, đều đang bất bình thay cho việc Tạ đại nhân bị thương.
Ám vệ còn đặc biệt lẻn vào Tạ phủ để xem, tận mắt chứng kiến Tạ Bích quả thực bị thương nặng, nằm liệt trên giường.
Ám vệ lại đến Tương Dương điều tra mối quan hệ của hai vị tướng trấn thủ Vĩnh Châu, cũng phát hiện quả thực như lời Tạ Bích nói, hai nhà có nhiều hiềm khích, và đều có chủ riêng của mình.
Nếu thực sự xảy ra chiến tranh, chắc chắn sẽ không toàn lực hỗ trợ.
Xem ra những gì trong thư nói là thật.
Sau khi nghe báo cáo, Đa Vinh hạ quyết tâm, vung quân Nam tiến.
Dù sao thì việc thay đổi quyền lực trong nội bộ Bắc Nhung đã ổn định, sau khi Đa Vinh lên ngôi đã đề bạt những đại thần trung thành với mình, ngai vàng đã vững chắc, lại khao khát thu phục Nam Bắc, mở rộng cơ đồ. Những lá thư này của Tạ Bích, giống như đang buồn ngủ thì có người đưa gối, vừa hay đến đúng lúc hắn cần.
Hơn nữa, Giang Nam có nhiều sông nước, bây giờ lại đến mùa hè nước lớn, Bắc Nhung đã chi khoản tiền khổng lồ để chế tạo những chiến hạm ba tầng vô cùng hoành tráng. Binh lính lại có thể nương theo sức nước xuôi dòng mà xuống, thẳng tiến Thục Đô. Nếu là mùa thu đông, mực nước sông không cao, e rằng ngay cả t** ch**n cũng không chở nổi.
Binh quý thần tốc, Đa Vinh không muốn trì hoãn thêm.
Hẳn là vị Thiếu Đế kia ở Thục Đô đã chọc giận trời, oán thán lòng người, trọng thần ly tán, xem ra đại quân vừa đến, sẽ không đánh mà tan.
Có lẽ, đây chính là thiên ý.
Đa Vinh cử Sài Quảng làm tướng, đại quân thẳng tiến Vĩnh Châu.
Sài Quảng là thê đệ* của Đa Vinh, xuất thân từ gia tộc lớn ở Bắc Nhung, thông thuộc binh pháp, nhưng không có nhiều kinh nghiệm cầm quân. Đa Vinh nghĩ rằng đã có thủy quân tinh nhuệ, lần Nam tiến này không đáng lo ngại, vì vậy đã phái hai vị tướng lĩnh dày dạn kinh nghiệm trận mạc làm phó tướng cho thê đệ, nghĩ rằng thê đệ mượn việc này để lập chiến công, cũng dễ bề đề bạt sau này.
Thê đệ*: Em vợ
Tin tức Sài Quảng xuôi dòng Nam hạ rất nhanh đã truyền đến Đàm Châu.
Mục tiêu lần này của Bắc Nhung có vẻ là Vĩnh Châu, nhưng thực chất là Thục Đô, bởi Vĩnh Châu nằm ở phía Tây Nam Hồ Nam, thông thẳng đến đất Thục.
Mà muốn tiến quân đến Vĩnh Châu, bắt buộc phải đi qua Đàm Châu.
Mọi người ở Vĩnh Châu đã sớm chuẩn bị xong.
Lần này thủy quân Bắc Nhung lên đến mấy vạn người, lại đa phần là thuyền lớn t** ch**n, mang theo khí thế đại quân áp cảnh, liên tiếp đánh bại thủy quân Đàm Châu hai lần.
Sài Quảng và những người khác chìm trong niềm vui chiến thắng.
Nhưng đường thủy dù sao cũng không phải đường bộ, không phải cứ xuất chiến càng đông người càng tốt.
Hệ thống sông ngòi ở Vĩnh Châu dày đặc phức tạp, Sài Quảng nhanh chóng phát hiện ra, t** ch**n hạng nặng tuy giúp họ chiến thắng, nhưng cũng hạn chế hoạt động của họ.
Vĩnh Châu đâu đâu cũng là đồi núi, có những địa hình khác nhau như gò đồi, sông ngòi, đầm lầy, đường thủy quanh co chật hẹp.
Nhiều nơi, t** ch**n hạng nặng không thể đi qua.
Lúc này Sài Quảng mới bàng hoàng tỉnh ngộ.
Để thừa thắng truy kích, trọng lúc bốc động họ đã từ bỏ con đường lớn xuôi dòng thẳng đến Thục Đô, mà tạm thời đổi hướng. Nhìn trên bản đồ, sau khi đổi hướng cũng có thể đến được Thục Đô, nhưng không ngờ một số tuyến đường thủy quá hẹp, việc đi qua không dễ dàng như tưởng tượng.
Mùa hè nóng nực, trên sông không có chỗ nào che nắng, chỉ có mấy chiếc thuyền di chuyển trên mặt nước nóng như thiêu. Binh lính Bắc Nhung kêu khổ không ngớt, trong quân luôn cấm rượu, nhưng dưới thời tiết oi bức, rượu ngon khó cấm. Vào ban đêm, không ít binh lính Bắc Nhung tụ tập trên thuyền uống rượu.
Xưởng thuyền dưới sự dẫn dắt của Giang Vãn Nguyệt, Giang Lai và những người khác đã tìm được loại gỗ thích hợp, chế tạo ra những chiếc thuyền nhẹ. Thuyền nhẹ có màu đen tuyền, có thể đi nhanh vào ban đêm, trên thuyền có xe pháo đơn giản, còn buộc thêm bè trúc nhẹ để có thể thoát thân.
Mỗi đêm, đều có mười tráng sĩ đi thuyền nhẹ xuống, ngầm phóng hỏa đốt lều trại của binh lính Bắc Nhung.
Trước đây, thủy quân tiếp cận chiến hạm của địch đều ôm lòng quyết tử, bây giờ trên thuyền nhẹ có thêm bè trúc, cơ hội sống sót đã lớn hơn nhiều.
Vì vậy họ càng thêm to gan, quả quyết tiếp cận thuyền của Bắc Nhung, qua vài đêm, không ít lều trại trên thuyền đã thành tro bụi.
Sài Quảng và những người khác biết rằng bách tính ở đây căm ghét họ rất nhiều, quan dân hợp lực, như cá gặp nước vô cùng xảo quyệt. Họ không cần thiết phải ham chiến, kế hoạch bây giờ vẫn là nhanh chóng rời khỏi nơi này, đến chiến trường lớn hơn, men theo sông tiếp tục đi về phía tây.
Muốn rời khỏi nơi này, phải thoát khỏi hệ thống sông ngòi dày đặc, đi xuôi theo sông Tiêu.
Họ đi được nửa đường, quả nhiên nhìn thấy mặt sông rộng mênh mông.
Tướng lĩnh trước khi vung quân Nam hạ đã đọc không ít binh thư.
Biết rằng trước khi qua sông phải kiểm tra lòng sông, nếu nước sông vẩn đục có bọt, chứng tỏ thượng nguồn đã có mưa, có thể qua được nửa chừng thì nước sông dâng cao.
Nhưng lúc này, lòng sông không có bọt nước, yên bình trong vắt.
Dưới sự xúi giục của Nhược Long, Sài Quảng hạ lệnh vượt sông.
Mọi người nhìn ra xa trên mặt sông, có thể thấy ở cuối chân trời dường như có mấy chiếc thuyền thấp thoáng, dần dần yên tâm, tốc độ vượt sông cũng nhanh hơn.
Ai ngờ vượt đến nửa sông, nơi sâu nhất, nước sông cuồn cuộn đổ xuống, dòng nước hung dữ cuốn tới, trong nháy mắt nhấn chìm quân đội.
Mọi người liều mạng giãy giụa, chỉ có vài ngàn người bò được lên bờ.
Sài Quảng và những người khác đến chết cũng không ngờ, họ rõ ràng đã đủ cẩn thận rồi, sao lại rơi vào tình cảnh này.
Làm sao họ có thể ngờ được.
Tạ Bích cùng mọi người đã sớm xây xong đập lớn, trông có vẻ là lòng sông tự nhiên, nhưng thực chất thượng nguồn đã xây đập nước, lượng nước nhiều hay ít đã sớm được kiểm soát.
Tạ Bích lập tức hạ lệnh mở cống.
Lúc đó, còn có rất nhiều thuyền đang đậu giữa sông.
Ví dụ như thuyền chở hương liệu của Lưu đại thẩm, cũng đang đậu trên mặt nước.
Nhưng mọi người đều sợ lúc này dời thuyền sẽ khiến quân Bắc Nhung nghi ngờ, chẳng những không ai đi dời thuyền, mà mọi người còn cùng nhau dâng thư, xin quan phủ lập tức mở cống, đừng bỏ lỡ thời cơ.
Tạ Bích nhìn thấy bản trần tình của các hương thân, im lặng một lúc lâu.
Trước đây khi kinh thành thất thủ, các quan đại thần đùn đẩy lẫn nhau, lũ lượt bỏ chạy.
Quan viên mỗi người đều có lòng riêng, nhưng bá tánh lại nguyện ý không màng đến gia sản, bảo vệ quê hương đất nước.
Những con thuyền không rút lui đó đã khiến binh lính Bắc Nhung lơ là cảnh giác, mới có được lần bắt ba ba trong vại này.
Sài Quảng cửu tử nhất sinh, sau khi bò lên bờ vẫn chưa từ bỏ ý định.
Mặc dù cuộc chinh phạt liên tiếp gặp trắc trở, nhưng may mà hai vị tướng trấn thủ Vĩnh Châu vốn không hòa thuận, họ đã dùng số tiền lớn để hối lộ một bên, bây giờ nhân cơ hội tấn công bên còn lại, chắc chắn có thể chiếm được Vĩnh Châu.
Ai ngờ hai người lần này lại liên thủ chống địch, cộng thêm sự phối hợp của Nhược Long từ bên trong, trong ngoài bao vây, chém giết binh lính Bắc Nhung không còn một mảnh giáp.
Trong phút chốc, lòng sông bị nhuộm đỏ bởi máu, ánh tà dương rải xuống, hiện ra vài phần bi tráng thê lương.
Sài Quảng tử trận, những binh lính còn lại cũng tan tác bỏ chạy.
Sài Quảng đến chết cũng không biết, hai vị tướng trấn thủ trước kia tuy có hiềm khích, nhưng đã sớm được Tạ Bích hòa giải, thậm chí vì tính tình hợp nhau, hai người còn xưng huynh gọi đệ.
Hoàn toàn không vì chuyện cũ mà có khúc mắc trong lòng.
Đa Vinh ở kinh thành nghe tin tức thì vô cùng tức giận.
Hắn lập tức bày trận, ngự giá thân chinh.
Một là vì bị đám người Nam yếu ớt không sức trói gà đánh bại, trong lòng vô cùng không phục, hai cũng là để ổn định lòng dân Bắc Nhung.
Bắc Nhung hai lần thất bại ở Đàm Châu, lần này Đa Vinh Nam hạ, không chọn Đàm Châu, mà đến Giang Tây.
Đa Vinh tiến vào địa phận Giang Tây, Nhược Long và Lý Nguyên Cát phối hợp hoàn hảo, đánh cho Bắc Nhung liên tiếp bại trận.
Và điều đáng sợ hơn cả chiến trường Giang Tây là, Thiếu Đế đã bí mật từ Thục Đô lên phía Bắc, tạm thời đóng quân ở Thái Nguyên. Mười vạn quân ở Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc tập kết, dưới sự hộ vệ của cấm vệ quân, đã đoạt lại Đông Đô, đốt cháy cung điện khí vật của Bắc Nhung, lấy tôn hiệu Hoàng đế, tế trời đăng cơ.
Đông Đô đã được quang phục* rồi.
Quang phục*: giành lại
Trên đến trọng thần, dưới đến lê dân, ai nấy đều vô cùng vui mừng.
Tạ Bích xa xa nhìn về phương Bắc, đôi mắt phượng lộ ra ý cười nhàn nhạt.
Họ… có thể về kinh thành rồi.